Thứ Tư, ngày 28 tháng 11 năm 2012

19. Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông

Email In PDF.
Tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á vẫn đang diễn ra ngày càng căng thẳng. Hi vọng về vai trò dàn xếp của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong vấn đề này cho đến nay vẫn khá mờ nhạt do sự chia rẽ của các nước thành viên trước những biện pháp và các miềng mồi mà Trung Quốc đưa ra. 
Một thỏa thuận của hy vọng không tưởng đã được đề ra dựa trên quan điểm rằng ASEAN sẽ thành lập một “con đê chắn sóng” đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc tại các vùng biển của Đông Nam Á. Điều này càng được củng cố bởi tuyên bố của Trung Quốc về “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “các vùng biển liên quan” gần như là vươn tận tới Xinhgapo. Các quốc gia ASEAN rõ ràng có một lợi ích chung và vạch ra một ranh giới mà các cường quốc ngoài khu vực như Nhật Bản, Ôxtrâylia, Ấn Độ và đặc biệt là Mỹ có thể ủng hộ. 
Tuy nhiên, các hoạt động của ASEAN trên nguyên tắc đồng thuận và thương lượng không đối đầu lại là một điểm yếu chết người. 4 trong số 10 nước thành viên ASEAN là Mianma, Campuchia, Lào và Thái Lan khăng khăng đặt ưu tiên bảo vệ mối quan hệ song phương êm thấm với Trung Quốc hơn là bảo vệ sự đoàn kết của ASEAN. Vì sự chia rẽ này, các nước thành viên ASEAN đã vướng mắc trong việc tìm kiếm một khuôn khổ để thỏa mãn tối thiểu các tham vọng của Trung Quốc. 
Về vấn đề này, họ nhận được ít sự giúp đỡ từ Bắc Kinh. Trung Quốc trốn tránh từng đề xuất đối với mỗi nước ASEAN để xây dựng được một kế hoạch quản lý mâu thuẫn, trong đó cái gọi là Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Bắc Kinh sẽ không đồng ý phân xử về tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn hay thậm chí là thảo luận với nhiều hơn một quốc gia trong cùng một thời điểm. Mà Trung Quốc cũng không có ý định làm rõ về những gì nước này tuyên bố tại Biển Đông. Và vì vậy, trong hai thập kỷ qua, vô số cuộc họp của ASEAN đã không thể đi đến việc giải quyết được vấn đề.
4 trong 10 nước ASEAN là những nước chính trong vấn đề tranh cãi tại Biển Đông. Malaixia, Brunây, Philíppin và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ hoặc một phần của quần đảo Trường Sa, kiểm soát các hòn đảo và tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển xung quanh. Việt Nam và Philíppin còn tuyên bố chủ quyền đối các hòn đảo và bãi đá ngầm ở phía Bắc gần Trung Quốc. 
Việt Nam tuyên bố chủ quyền cả quần đảo Hoàng Sa, nằm giữa duyên hải miền Trung Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Quần đảo này đã bị Trung Quốc chiếm giữ từ khi chế độ miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1974 và hồi đầu năm nay Bắc Kinh đã thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa để hợp nhất mọi tuyên bố mở rộng của nước này tại Biển Đông. Philíppin, tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough, khu đánh cá giàu sản lượng chỉ cách 200km từ bờ biển Luzon nơi đã xảy ra vụ chạm trán với tàu hải giám của Trung Quốc hồi tháng 4.
Không ngạc nhiên khi Philíppin và Việt Nam đã có phản ứng mạnh mẽ nhất bằng một câu trả lời dứt khoát đối với tham vọng của Trung Quốc nhằm thống trị vùng biển kéo dài gần 2.000 km về phía Nam từ đảo Hải Nam . Sự háo hức của Manila và Hà Nội đối với Hải quân Mỹ, như là một nhân tố trong tranh chấp có thể khiến các nước thành viên ASEAN khác bỏ cuộc. 
Ngược lại, Malaixia và Brunây quyết duy trì một vai trò mờ nhạt. Hai nước này đã lựa chọn tuyên bố chủ quyền giữa họ và với Việt Nam, dựa trên quan điểm được hệ thống trong Công ước của LHQ về Luật biển (UNCLOS) và luật pháp quốc tế. Cả hai quốc gia này đều né tránh những nỗ lực của Việt Nam và Philíppin nhằm bảo vệ yêu sách tại vùng biển ở phía Bắc. Suy nghĩ một cách nghiệt ngã nhất, cả Cuala Lămpơ lẫn Banđa Xêri Bêgaoan dường như đang hi vọng ngược lại với bằng chứng đang ngày càng gia tăng rằng Trung Quốc có thể đã chán ngấy những vùng biển mà các nước này tuyên bố chủ quyền. 
Inđônêxia và Xinhgapo cũng cùng chung lợi ích trong việc ngăn cản Trung Quốc theo đuổi yêu sách bành trướng của các nước này. Vùng biển bên trong đường 9 đoạn của Trung Quốc chồng chéo lên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Inđônêxia gần với quần đảo Natuna.
Giacácta và Xinhgapo cho đến nay vẫn tự nhận vai trò nước ủng hộ chính cho “giải pháp ASEAN,” với việc Xinhgapo thường công khai chiều theo vai trò lãnh đạo của Inđônêxia. 
Trong khi cho thấy sự sẵn sàng làm việc song phương, Trung Quốc vẫn chưa có thay đổi nào đối với tuyên bố chủ quyền theo lịch sử về toàn bộ vùng biển nằm trong đường 9 đoạn. Bắc Kinh vì vậy đòi quyền lợi đối với các nguồn tài nguyên biển lên tới 85% tại Biển Đông, bất chấp quy định của UNCLOS rằng tất cả các quốc gia có đặc quyền khai thác vùng biển cách 200 hải lý từ đường bờ biển, hoặc bên ngoài đó nếu thềm lục địa lớn hơn, trừ khi nó giáp với vùng EEZ của nước khác. Trung Quốc bác bỏ quy định của UNCLOS, cho rằng các thủy thủ và ngư dân của mình đã có mặt tại các vùng biển này từ thời thượng cổ.
Tất cả các bên tranh chấp có thể dựa vào tiền lệ lịch sử để biện minh cho yêu cầu của mình. Trong một thiên niên kỷ, Biển Đông đã là tài sản chung toàn cầu. Việt Nam có thể đưa ra các chứng cứ từ các sắc lệnh và bản đồ thế kỷ 18 để chứng minh sự nhất quán hơn so với Trung Quốc trong tuyên bố chủ quyền tại các đảo san hô ở Biển Đông. Như ở Trung Quốc, những tài liệu này kích động tình cảm dân tộc. 
Tuy nhiên, tranh cãi lịch sử không đưa ra được một giải pháp thoát khỏi mớ tuyên bố lộn xộn trừ khi như một số người bên phía Trung Quốc tin tưởng, nó được hẫu thuẫn bởi một lực lượng vững chắc. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố tại một cuộc họp ASEAN tổ chức vào tháng 8/2010 rằng: "Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, và đó là một thực tế." 
Vùng nước bị khuấy động
Trong nhiều năm nay, hy vọng đạt được một bước đột phá ngoại giao tăng lên trong những tháng mùa Thu, khi Biển Đông bị khuấy động bởi gió mùa, hành động khiêu khích của Bắc Kinh, đặc biệt là việc quấy rối ngư dân Việt Nam và Philíppin cũng như đe dọa các công ty năng lượng có khả năng khai thác dầu khí đáy biển theo giấy phép được Hà Nội hay Manila cấp. 
Bắc Kinh đã dựa vào hàng trăm tàu “bảo vệ ngư dân” và “an toàn hàng hải” có vũ trang để mở rộng kiểm soát, trong khi trên thực tế có thể hiểu đó là sự tăng cường của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam , Malaixia, Inđônêxia và Xinhgapo đã tăng gấp đôi sức mạnh hải quân và không quân. Philíppin là kẻ đến muộn trong việc xây dựng quân đội tại Biển Đông. Mặc dù Manila đã bị kích động bởi các cuộc xung đột gần đây với Trung Quốc, lực lượng của họ bị đánh bại. 
Biển Đông được kỳ vọng có trữ lượng lớn về dầu khí, điều đó đã thúc đẩy nỗ lực của Trung Quốc để đưa Biển Đông vào vùng thống trị của quốc gia này. Sự thất bại trong đối thoại của ASEAN nhằm tìm ra một lối thoát cho cuộc khủng hoảng đang gia tăng, chiến lược “đàm phán và chiếm” không khoan nhượng của Trung Quốc và sự can dự sau đó của Mỹ trong những tranh cãi này đã khiến các chuyên gia thất vọng.
Có một sự lo sợ về việc một Trung Quốc thù địch có thể tự sắp xếp như thế nào nếu nước này thắng thế trong cuộc tranh cãi làm khuấy động Mỹ. Oasinhtơn không muốn chiến tranh và không rõ Mỹ sẽ phản ứng ra sao nếu Việt Nam hay Philíppin và thậm chí là Xinhgapo rơi vào tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Tuy nhiên, dường như ít nghi ngờ rằng Oasinhtơn quyết tâm ngăn cản Bắc Kinh kiểm soát hàng hải tại Biển Đông. 
Nếu ASEAN không lấp lỗ hổng, ai sẽ làm điều đó? Mỹ và phần còn lại của thế giới cần một lập luận chắc chắn để biện minh cho một sự can dự hiệu quả và bền vững. Mới bị tổn thương bởi vụ vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Irắc, dư luận Mỹ thận trọng với một cuộc phiêu lưu quân sự bên ngoài khác. Nhật Bản lại vốn thận trọng với một hành động quyết đoán. Nếu ASEAN muốn nhiều điều từ Mỹ và các đồng minh của Mỹ hơn là chỉ bày tỏ mong muốn có được tự do hàng hải tại Biển Đông, các quốc gia ASEAN ven biển cần tạo ra một tình huống thuyết phục rằng họ cần sự hỗ trợ đáng kể. 
Nhiều trong số các nhà hoạch định chính sách ngoại giao phương Tây tin rằng Mỹ có thể có quan hệ đối tác với một Trung Quốc đang trỗi dậy. Gia tăng căng thẳng tại Biển Đông là một mối đe dọa đối với tầm nhìn của họ về một cộng đồng Thái Bình Dương thịnh vượng và hòa bình. Sẵn sàng thừa nhận phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc, họ nói – cũng giống như ASEAN – rằng họ không đứng về bên nào trong tranh cãi này. Nhiều cố vấn chiến lược phương Tây vẫn thảo luận về sự đối đầu mà tất cả các bên đều có trách nhiệm ngang bằng nhau. 
Tuy nhiên, nhận thức này có thể thay đổi. Tất cả những gì cần thiết cho Brunây, Malaixia, Philíppin và Việt Nam là thảo luận về một lập trường chung - điều họ có thể làm được bằng cách lựa chọn, nếu không dàn xếp được - những tuyên bố của họ với việc áp dụng những quy tắc của UNCLOS và luật pháp quốc tế chung. Họ cũng có thể cam kết phân xử về những tranh cãi còn tồn tại. Những nước không có tranh cãi là Inđônêxia và Xinhgapo có thể hỗ trợ với tư cách là một quốc gia thành viên ASEAN. 
Cần làm sáng tỏ kết quả ngay lập tức về những tuyên bố chồng lấn hiện nay của 4 quốc gia đối với quần đảo, bãi đá ngầm và bãi đá ở Trường Sa. Họ có thể thống nhất về không gian hàng hải của những vùng đất chung và từ đó thành lập những giới hạn địa lý của khu vực tranh chấp. Điều đó đến lượt nó sẽ làm rõ hàm ý của những yêu sách đòi kiểm soát các vùng biển xung quanh. 
Liên quan đến những tuyên bố ngoài khu vực Trường Sa, một thỏa thuận sơ sài còn tốt hơn là không có. Trung Quốc đã kiểm soát quần đảo Hoàng Sa trong gần bốn thập kỷ và hiện giờ dường như xác định kiểm soát cả bãi cạn Scarborough . Xét ở điểm này, khả năng xác nhận thành công từ chứng cứ lịch sử của Việt Nam và Philíppin đối với các vùng lãnh hãi tranh chấp này dường như là tuyệt vọng. 
Một cách giải quyết thực dụng có thể là khẳng định việc Bắc Kinh công nhận EEZ theo như quy định trong UNCLOS, một cách giải quyết nếu được tán thành có thể chuyển phía Tây của Hoàng Sa về Việt Nam cũng như bãi Scarborough về Philíppin. Malaixia, Brunây, Inđônêxia và Xinhgapo dường như phải ủng hộ, mặc dù họ tránh né thừa nhận tuyên bố dựa trên chứng cứ lịch sử. 
Những bước này, có thể đến sau vài tháng căng thẳng và thương lượng bí mật, có thể thành lập cơ sở cho giải pháp hòa bình đối với cuộc khủng hoảng không thể chối cãi hiện nay. Nó có thể khiến Mỹ và các nước đồng minh hỗ trợ mạnh mẽ và thậm chí, có thể đến mức can thiệp quân sự. 
Hành trang lịch sử 
Trung Quốc, với ban lãnh đạo mới trong nhiều năm tới, có thể sẽ tìm cách rút lui khỏi thế đối đầu. Những người phát ngôn của Trung Quốc đã đôi khi nói về khả năng các yêu sách có thể được giải quyết dựa trên luật pháp quốc tế, và việc trì hoãn các thỏa thuận về giải pháp cùng khai thác tài nguyên Biển Đông có thể làm giảm căng thẳng. 
Tuy nhiên, điều này không dễ dàng đối với Trung Quốc khi phải rút lại những yêu sách trong lịch sử. Cách hành xử này là không thể hiểu được trừ khi Việt Nam cũng làm điều tương tự, nghĩa là trừ khi Hà Nội cùng đồng ý thiết lập các đường biên giới hàng hải dựa trên UNCLOS và các luật pháp quốc tế liên quan. 
Cũng như Trung Quốc, Việt Nam đã dựa nhiều vào lập luận lịch sử, một số học giả độc lập cho rằng dựa trên chứng cứ lịch sử, tuyên bố chủ quyền của Hà Nội đối với các đảo tranh chấp là có ưu thế hơn. Song không dễ để Hà Nội giải quyết bằng vấn đề lịch sử. Như bản chất vốn có, xét cho cùng, một quốc gia được tôi luyện qua quá trình đấu tranh chống lại sự xâm lược của Trung Quốc trong hàng trăm năm kể từ năm 938 trước Công nguyên, trừ khi đối thủ truyền kiếp và không cân xứng này có thể vượt qua lịch sử cay đắng, ít có cơ hội về một kết thúc có hậu cho cuộc khủng hoảng hiện tại ở Biển Đông. 
Một số chuyên gia cho rằng bỏ qua những yêu sách trong lịch sử của Trung Quốc và đưa ra một vị thế đàm phán chung dựa trên các nguyên tắc pháp lý sẽ chỉ chọc giận cường quốc đang trỗi dậy tại châu Á. Tuy nhiên, khó có thể tưởng tượng rằng thất bại trong việc chống lại tham vọng của Trung Quốc có thể dẫn tới một kết quả tốt đẹp hơn. 
Vẫn có một kịch bản triển vọng. Được thúc đẩy bởi sự nhận thức rằng thời gian có hạn, 4 quốc gia ASEAN tuyên bố chủ quyền xem xét vấn đề biên giới biển trong nội bộ các nước này bằng việc áp dụng các quy định pháp lý liên quan. Được hỗ trợ bởi quan điểm chung từ Inđônêxia và Xinhgapo, nếu không phải toàn bộ ASEAN, họ tuyên bố sẵn sàng tham gia đàm phán với Trung Quốc trên cơ sở chung. Thay vì tuyên bố chỉ đàm phán song phương, Trung Quốc nhất trí với tiến trình này. Chẳng bao lâu nữa một thỏa thuận sẽ được đưa ra thừa nhận sự bá chủ của Trung Quốc đối với hầu hết Trường Sa và có lợi thế tại Hoàng Sa. 
Các bên sau đó quay lại đàm phán những vấn đề liên quan, chẳng hạn như Bộ quy tắc ứng xử (COC). Nó sẽ không phải tài liệu tương tự viết rằng ASEAN đã thảo luận mà là một văn kiện rõ ràng ủng hộ hòa giải tranh chấp lãnh thổ được thảo luận ở trên. Khai thác tài nguyên năng lượng chung có thể ràng buộc lẫn nhau về nhiều yếu tố trong một tương lai tích cực tại Biển Đông. Các bên có thể nhất trí mở cánh cửa cho sự tồn tại của các quốc gia ven biển hành động có trách nhiệm. 
Nói cách khác, bất kỳ chế độ nào kiểm soát Biển Đông cũng không thể tồn tại lâu trừ khi nước đó nhất trí cho các thực thể của Trung Quốc tiếp cận công bằng đối với các tài nguyên biển tại khu vực. Các nước ven biển khác phải chào đón và tạo thuận lợi cho đầu tư và liên doanh với Trung Quốc, trong đó bao gồm các bên phía Trung Quốc khai thác tài nguyên đáy biển. Có thể cùng quản lý và cùng giám sát việc đánh bắt hải sản trên các nguyên tắc nhất trí chung. Cuối cùng, các quốc gia ven biển có thể thảo luận nguyên tắc quản lý các kênh vận chuyển, sự khai báo và quyền đi lại tại Biển Đông.
Một số người có thể phản đối rằng kịch bản vui vẻ này có thể gây nguy hại cho các nguyên tắc có tổ chức và thực tế lãnh đạo hiện trạng trong cái gọi là “Cách thức ASEAN”. Tuy nhiên, việc thừa nhận rằng trong trường hợp ASEAN thất bại trong việc khiến mô hình đồng thuận có tác dụng dường như ít gây hại cho hiệu quả chung của tổ chức này, hơn là tiếp tục nỗ lực không hiệu quả để khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN trong những tranh cãi đang ngày càng căng thẳng này. 
David Brown, Asia Times Online 
Thuỳ Anh (gt)