Thứ Sáu, ngày 12 tháng 10 năm 2012

9. Tranh chấp lãnh thổ Trung-Nhật- Bước trượt dài nguy hiểm

THÔNG TẤN XÃ VIỆT
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ sáu, ngày 21/9/2012
TTXVN (Angiê 16/9)
Trung Quốc và Nhật Bản đang trượt dần đến xung đột, nhưng vẫn đặt tay lên ngực phía trái tim mà nhắc lại rằng ý định của mình là hòa bình. Như để xua tan những diễn biến xấu trong cuộc tranh cãi ở biển Hoa Đông liên quan đến quần đảo Điếu Ngư hay Senkaku bằng những lời niệm thần chú, cả Tôkyô lẫn Bắc Kinh đều tái khẳng định niềm hy vọng vào một giải pháp êm dịu, nhưng cùng lúc đó lại khuấy động ngọn lửa xung đột trong bối cảnh Nhật Bản tỏ thái độ khiêu khích, còn Trung Quốc đáp lại bằng những hoạt động cứng rắn. Với nhận xét này, chuyên gia các vấn đề châu Á Jean Hadime muốn chứng minh trên tạp chí “Tin Trung Hoa” mức độ nguy hiểm của cuộc tranh cãi chủ quyền hai nước hiện nay nếu cả hai không kiềm chế.
Cách đây 25 thế kỷ, nhà sử học Hy Lạp Thucdide phân tích ngọn ngành chuỗi sự việc và thiên kiến chính trị, cộng thêm tình hình phức tạp nảy sinh từ lịch sử và các nền văn hóa không giống nhau, đã dẫn đến cuộc chiến tranh P’loponese như một sự sắp đặt của định mệnh. Hậu cảnh đầy tính xung đột hiện nay giữa Trung Quốc và Nhật Bản là rõ ràng và bắt nguồn từ thời xa xưa trong lịch sử đan xen của hai nước.
Phấn khích trước một chuối các sự việc đầy tính kích động được nuôi dưỡng bởi một thứ chủ nghĩa dân tộc bệnh hoạn nguy hiểm, với di sản không tốt đẹp những tham vọng quân phiệt độc ác của Nhật Bản và bị kích động bởi sự kình địch ở cấp độ cao giữa Bắc Kinh và Oasinhtơn, các hậu cảnh đó chồng chất lên nhau như tầng lớp của một khối thuốc nổ chỉ còn chờ được châm ngòi. Cuộc cãi vã ít có khả năng biến thành xung đột quy mô lớn cho chủ nghĩa dân tộc trần trụi ở cả hai phía đường như thúc đẩy sự việc đi theo hướng đó, song đã bắt đầu làm Mỹ rất khó xử vì bị giằng xé giữa một bên là liên minh với Nhật Bản và bên kia là lợi ích chiến lược của mình rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc là tác nhân lớn.
Ngòi nổ của thảm kịch đang âm ỉ đó là một quần đảo rất nhỏ, gần như vô nghĩa nhưng trở thành một biểu tượng về lãnh thổ thiêng liêng, giống như chiếc tủ thiêng chứa đựng chủ quyền của Trung Quốc là vấn đề nhạy cảm hơn vì nước này nhiều lần bị nhục nhã trước chính Nhật Bản trong thế kỷ 19 và 20. Nhưng quần đảo Điếu Ngư còn bị Đài Loan đòi chủ quyền cũng vì những lý do tương tự.
Quần đảo này trước đây thuộc Đế chế Thanh, nằm ở ranh giới tỉnh Okinawa của Nhật Bản bao gồm đảo Ryukyu. Năm 1895, sau thất bại của nhà Thanh trước đế chế mặt trời mọc, Điếu Ngư trở thành Senkaku và thuộc về lãnh thổ Nhật Bản. Quần đảo này nằm trong phần đất nhượng của Đài Loan cho Nhật Bản được hiệp ước Shimonoseki xác định bằng cái tên Bồ Đào Nha của hòn đảo này là “Formose”. Toàn bộ vụ chuyển nhượng lãnh thổ này, vốn là sự từ bỏ đau lòng đối với người Trung Quốc, được đề cập trong hiệp ước này với một cách nói mập mờ, theo đó Trung Quốc nhượng lại cho Nhật Bản “Đảo Formose cùng với các hòn đảo thuộc Đảo này”.
Căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến hòn đảo này lại bùng phát chứ không hề suy giảm. Tháng 8/2012, căng thẳng chuyển từ Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông – TTXVN) sang Biển Hoa Đông, giữa Tôkyô và Bắc Kinh về quần đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku) mà cả hai bên đều đòi chủ quyền. Các cuộc tranh cãi vẫn nổ ra và thường âm ỉ dưới đống tro tàn không nguội hẳn do những ký ức về hành động tàn ác của Nhật Bản trên lãnh thổ Trung Quốc trong thời kỳ 1933-1945.
Nhưng lần này Trung Quốc không bị chỉ mặt vì thói ngạo mạn và các yêu sách lỗ bịch của nước này, mà là Nhật Bản, nước bị cả Trung Quốc lẫn Đài Loan chỉ trích. Tình hình nóng lên ở hòn đảo này khi sảy ra các vụ đổ bộ lên đảo được tuyên truyền rầm rộ một số nhà hoạt động giương cờ Trung Quốc và căng thẳng tăng lên đến cao độ khi Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản vào giữa tháng 8/2012 bắt 14 kiều dân Hồng Công thuộc Trung Quốc đổ bộ lên Điếu Ngư, rồi trả lại tự do cho họ ngày 17/8.
Hiện nay, Tôkyô vẫn quản lý các hòn đảo nhỏ không có người ở, chính thức được Liên hợp quốc “trả lại” Nhật Bản vào năm 1972 sau thời kỳ Mỹ chiếm đóng. Do đó, Nhật Bản không chấp nhận coi các hòn đảo này nằm trong phần đất nhượng năm 1895, mặc dù vụ chuyển nhượng này đã bị hủy bỏ sau thất bại của Nhật Bản năm 1954. Trong khi Trung Quốc bác bỏ vụ chuyển nhượng đó, Nhật Bản cáo buộc Bắc Kinh và Đài Bắc chỉ lên giọng và nông tầm yêu sách của mình sau khi Liên hợp quốc công bố năm 1969 một bản báo cáo nói đến các mỏ dầu có thể có dưới đáy đại dương quanh đó.
Ngày 10//2012, sau khi lắng xuống trong nhiều năm, cuộc tranh cái lại vượt qua một ngưỡng cửa mới. Thực hiện một dự án được công bố tháng 7/2012, Chính phủ Nhật Bản đã thông báo sẽ mua lại 3 trong số 5 hòn đảo nhỏ, cho đến lúc đó được Tôkyô cho tư nhân thuê, với giá 26 triệu USD, và cẩn thận nhắc lại “ý định hòa bình” của mình trong vấn đề này. Ngay lập tức, Trung Quốc phản ứng. Vào lúc hai tàu tuần tra của nước này tiến đến sát các hòn đảo nói trên, trong khi vùng này được Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản giám sát kể từ sau các vụ việc năm 2010, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cho rằng vụ chuyển nhượng là bất hợp pháp và tờ báo của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa đăng một bài bình luận cho rằng Nhật Bản đang đùa với lửa.
Trước thềm đại hội 18 đảng cộng sản Trung Quốc, căng thẳng mang tính dân tộc chủ nghĩa và sự cần thiết phải giải quyết vấn đề này đè nặng lên tâm trí các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Tuyên bố của Chủ tịch Trung Quốc và Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa được đưa ra sau một cuộc diễn tập đổ bộ tấn công của Hải quân Trung Quốc vào tháng 7/2012. Tiếp đó là lời kêu gọi vào tháng 8/2012 của viên tướng quân đội có đầu óc dân tộc chủ nghĩa nặng nề La Viện đòi phải có hành động đáp trả và đưa 100 tàu đến vùng quần đảo Senkaku. Mới đây nhất là một bài báo đăng ngày 20/8 trên tờ “Global Times” cảnh báo Nhật Bản “sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều so với dự tính”.
Sau khi có tin Tôkyô mua lại các hòn đảo nói trên, ông Sun Cheng, chuyên gia về Nhật Bản thuộc Trường đại học khoa học chính trị Bắc Kinh, giải thích rằng dư luận Trung Quốc không chấp nhận lập trường thỏa hiệp của chính quyền nước này. Trên thực tế, có thể lợi ích thương mại của Nhật Bản – cụ thể là bán xe hơi – sẽ bị đe dọa trả đũa. Theo tờ “Wall Street Journal”, lượng xe Toyota bán ở Trung Quốc đã giảm 15% trong tháng 8/2012 và Thứ trưởng thương mại nước này, Khương Tăng Vĩ, cho rằng khuynh hướng này sẽ tiếp tục gia tăng.
Tại Tôkyô, khi phát biểu trước các sĩ quan thuộc lực lượng phòng vệ, Thủ tướng Nhật Bản Yoshikiho Noda điểm lại tình hình chiến lược trong vùng, nhắc đến “mối đe dọa của tên lửa và hạt nhân Bắc Triều Tiên, sức mạnh ngày càng lớn của sức mạnh quân đội Trung Quốc và sự có mặt liên tục của nước này tại các vùng biển khu vực, cũng như việc Nga tăng cường sự có mặt của mình ở Viễn Đông.
Cũng trong tháng 8/2012, cho dù nhóm khủng hoảng quốc tế tỏ ra lo ngại trước tình hình xấu đi trong quan hệ giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ, nhấn mạnh đến mối nguy hiểm của tư duy dân tộc chủ nghĩa, song lúc này ít nhà quan sát tin sẽ xảy ra xung đột quân sự lớn. Trái lại, tại Tôkyô, cuộc tranh cái khuấy động tinh thần dân tộc chủ nghĩa và người ta bắt đầu tính tới cán cân lực lượng về quân sự ở Đông Bắc Á, những điểm yếu của lực lượng phòng vệ và độ bền của liên minh quân sự với Mỹ. có thể đây là hiệu ứng của việc Mỹ chuyển lợi ích chiến lược về vùng Tây Thái Bình Dương, điều nhiều lần được Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ tái khẳng định, với một trong những hệ quả là kích thích một số nước trung vùng đối đầu quyết liệt hơn với Trung Quốc. Cuộc tranh cãi về các hòn đảo nhỏ này đang trượt một cách nguy hiểm tới sự kình địch Trung – Mỹ và có nguy cơ đặt Oasinhtơn vào thế chênh vênh giữa Bắc Kinh và Tôkyô.
Tại Nhật Bản, một số nhà nghiên cứu – trong đó có ông Yoichiro Sato, Giám đốc nghiên cứu chiến lược thuộc Trường đại học châu Á – Thái Bình Dương Ritsumeikan – chủ trương nông cao vị thế chiến lược của Nhật Bản vì sợ Trung Quốc sẽ nhân cơ hội này dùng vũ lực quân sự chiếm quần đảo. Đồng thời, họ nhấn mạnh đến tính mong manh trong lời hứa hẹn của Mỹ trợ giúp Lực lượng phòng vệ Nhật Bản trong trường hợp xảy ra xung đột với Trung Quốc như được gi trong các hiệp ước song phương.
Trong một bài báo đăng trên tờ “South China Morning post”, chuyên gia Sato nhận thấy sức mạnh kinh tế của Nhật Bản suy giảm và những bước đi sai lệch trong chính sách của các chính phủ thuộc Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) mà ông cho là người phải chịu trách nhiệm về những sai lầm xảy ra trong tranh chấp về lãnh thổ với Trung Quốc (Senkaku), Hàn Quốc (Takeshima) và Nga (Kuril). Với tình hình chiến lược ở châu Á – Thái Bình Dương và mặc dù có hiệp định quốc phòng giữa Nhật Bản và Mỹ nhưng người Nhật hiện nay vẫn nghi ngờ Mỹ, vì sợ mất Trung Quốc, sẽ không chấp nhận can dự về quân sự để hỗ trợ Tôkyô trong trường hợp Trung Quốc tấn công quần đảo Senkaku.
Theo nhà nghiên cứu này, tình hình hiện nay cũng được đánh dấu bằng sự thay đổi cán cân lực lượng có lợi cho Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, do đó Nhật Bản cần được phía Mỹ cấp thiết làm rõ ý định của mình, nếu Trung Quốc có thể nảy sinh ý định sử dụng vũ lực. Và để thuyết phục có hiệu quả hơn chính phủ Mỹ khẳng định tái can dự với Nhật Bản, chuyên gia Sato thậm chí đề suất một cuộc mặc cả. Để đổi lấy lập trường rõ ràng của Nhà Trắng, vốn nhắc đi nhắc lại quyết tâm phản đối mọi hành động sử dụng vũ lực nhằm làm thay đổi quyền kiểm soát về hành chính của Tôkyô đối với các hòn đảo nhỏ, Chính phủ Nhật Bản tỏ ra mềm dẻo hơn trong vấn đề căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ mình, vốn khiến Lầu Năm Góc khó chịu.
Như vậy, cuộc tranh cãi đặt Osinhtơn vào thế lúng túng về mọi phương diện. Tại Bắc Kinh, Oshinhtơn bị cáo buộc khẳng định không đứng về phía nào trong các cuộc tranh cãi về lãnh thổ, nhưng quần đảo Senkaku do Nhật Bản quản lý lại nằm trong phạm vi bảo vệ của các hiệp định quốc phòng. Tại Tôkyô, Mỹ bị nghi ngờ thiếu quyết tâm nên Nhật Bản gây áp lực, đòi Mỹ phải khẩn cấp tái khẳng định quyết tâm can dự quân sự cùng với mình, cho dù có nguy cơ làm phức tạp thêm một giải pháp hòa bình, và triệt tiêu khả năng của Mỹ chơi con bài trung gian trong cuộc tranh cãi, vốn đã suy giảm trước thái độ nghi ngờ của Trung Quốc.
Mặc dù tại Nhật Bản có người lên tiếng kêu gọi kiềm chế như thứ trưởng Ngoại giao Tuyoshi Yamaguchi được tờ “Asahi shimbun” dẫn lời, song các hành động khiêu khích, mặc cả và gây áp lực nối tiếp nhau trong thời gian gần đây của Nhật Bản dường như là hậu quả trực tiếp của việc Oashinhtơn khẳng định tăng cường sự có mặt về quân sự trong vùng. Lập trường của Mỹ dẫn đến việc những tuyên bố mang tính dân tộc chủ nghĩa gia tăng ở Trung Quốc và các nước lãng giềng. Trước việc Bắc Kinh khẳng định sức mạnh và đòi hỏi chủ quyền, thái độ của Mỹ khiến những hành động và khiêu khích chống Trung Quốc gia tăng và, theo lôgích, là những lời kêu gọi của Nhật Bản tái khẳng định trước dư luận liên minh với Mỹ. Trong khi đó, chính sách của Mỹ lách giữa một bên là kiềm chế tham vọng của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa và Hoa Đông và bên kia là lợi ích kinh tế của mình, cộng thêm với những ưu tiên chiến lược toàn cầu đòi hỏi phải làm dịu mối quan hệ với Trung Quốc đối với tối đa các vấn đề nhạy cảm.
Đụng độ trên biển giữa tàu hai nước thường xuyên nổ ra, nhưng cuộc tranh cãi trở nên quyết liệt hơn khi Nhật Bản thông báo quốc hữu hóa các hòn đảo này. Trung Quốc cho đó là điều không thể chấp nhận được và ngay lập tức điều tàu tuần tra đến. Báo chí Trung Quốc, gần như nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ, đưa lên trang nhất lời lẽ chống Nhật Bản. Chính phủ Trung Quốc, gần như bỏ qua, thậm chí dung túng, trạng thái tâm lý này và chấp nhận để dân chúng biểu tình ở một nước mọi cuộc mít tinh biểu tình bột phát đều bị đàn áp. Nhưng Nhật Bản là kẻ thù truyền kiếp và lòng hận thù đối với kẻ thù này vượt ra khỏi biên giới quốc gia của Trung Quốc. Tại Hồng Công, đụng độ nổ ra khi người biểu tình định tràn vào tòa lãnh sự Nhật Bản.
Vào lúc này, mặc dù đưa ra những tuyên bố sặc mùi chiến tranh hồi tháng 8/2012 và trước áp lực của công luận trong nước, Trung Quốc vấn tỏ ra kiềm chế vì các tàu tuần tiễu được điều động đến vùng biển tranh chấp đều thuộc dân sự và các cuộc biểu tình chống Nhật Bản ở Trung Quốc đều được cảnh sát theo sát. Tuy nhiên, rất ít khả năng sự việc sẽ dừng lại ở đó.
Các giả thuyết trả đũa của Trung Quốc bao gồm nhiều mặt mà ai cũng biết. Đó sẽ là các biện pháp chống lợi ích của Nhật Bản ở Trung Quốc vì với lượng hàng bán ở Trung Quốc bao gồm 20% hàng suất khẩu của Nhật Bản, việc này không làm cho Nhật Bản cảm thấy đau đớn. Thêm vào đó là việc hủy các chuyến thăm chính thức hay hoạt động trao đổi văn  hóa và du lịch. Ngoài ra còn có thể xảy ra tấn công trực tiếp vào hòn đảo – một phương án chứa đựng nhiều rủi ro, ít có khả năng sảy ra, nhưng rõ ràng được phía Nhật Bản dự tính hay đưa tàu chiến đến vùng tranh chấp để hỗ trợ lực lượng bờ biển dân sự.
Từ khi chiến tranh kết thúc đến nay, mối quan hệ Trung – Nhật dao động giữa những thời kỳ căng thẳng dân tộc chủ nghĩa và ý định làm dịu tình hình, trong khi các nhà lãnh đạo nhìn xa trông rộng nhất biết rõ rằng mối quan hệ đó đều phục vụ lợi ích của cả hai nước. Đối với Bắc Kinh, việc xích lại gần Tôkyô về lâu dài sẽ có khả năng gia tăng lợi thế chiến lược đáng kể là ngăn chặn liên minh quân sự Mỹ – Nhật. Dĩ nhiên mục tiêu này còn rất xa vời vì chính khách, kể cả nhẵng người thông thạo nhất, kiểm soạt được.
Liệu có sảy ra xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản không? Cách đây ít ngày, các chuyên gia còn trả lời là không. Nhưng từ ngày 17/9, người ta có quyền nghi ngờ điều này. Giới quan sát không loại trừ khả năng một quần đảo với vài hòn đảo không có người ở được gọi là Điếu Ngư/Senkaku có thể làm đảo lộn số phận của hàng triệu người. Bởi lẽ cả Trung Quốc lấn Nhật Bản lúc này đều không muốn nhân nhượng bộ. Trong lúc đó, dân chúng xuống đường mít tinh biểu tình rầm rộ.
Sau các cuộc biểu tình khổng lồ tại 80 tỉnh, thành của Trung Quốc và các hành vi phá hoại lợi ích của Nhật Bản ở nước này, từ các nhà máy chế tạo xe hơi Toyota đến các cửa hàng ăn, ngày 18/9 đối với Trung Quốc và Nhật Bản là cuộc thử nghiệm lớn trong cuộc chiến cân não giữa hai nước diễn ra từ nhiều ngày nay và là ngày có tính biểu tượng cao. Đó là ngày kỷ niệm trận Moukden (diễn ra từ ngày 20/2/1905 đến ngày 11/3/1905 giữa Nga và Nhật Bản kết thúc bằng chiến thắng của Nhật Bản tại Moukden, nay là Thẩm Dương, Trung Quốc), tạo cớ cho Nhật Bản xâm lược Mãn Châu, một trong những tiền đề dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ Hai. Theo ông Edouard Pflimlim, nhà nghiên cứu thuộc viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp (IRIS), nhiều cuộc biểu tình được chính quyền cộng sản cho phép đã nổ ra tại nhiều thành phố của Trung Quốc. Các cuộc biểu tình cuồng nộ chống Nhật Bản ở Trung Quốc có thể là cơn sốt dân tộc chủ nghĩa cuối cùng, nhưng đây lại là hành động thao túng của Chính phủ Trung Quốc, hiện đang phải đối phó với cuộc đấu đá nội bộ tranh dành quyền lực tối thượng.
Phân tích trên tạp chí “Affaires Stratégiques”, chuyên gia Edouard Pflimlim cho rằng cuộc xung đột về chủ quyền quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku gây ra cơn sốt dân tộc chủ nghĩa triền miên ở Trung Quốc. Từ nhiều tuần lễ nay, căng thẳng không ngừng tăng lên giữa nhật bản và Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, trong biển Hoa Đông, nơi có thể có nhiều khí đốt. Việc Nhật Bản ngày 11/9 thông báo quốc hữu hóa 3 trong 5 hòn đảo khiến Bắc Kinh nổi giận. Thủ tướng nước này, Ôn Gia Bảo, tuyên bố Trung Quốc sẽ “không bao giờ nhân nhượng một tốc đất” trên các hòn đảo này. Bắc Kinh dọa trừng phạt kinh tế đối với Tôkyô trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Nhật Bản.
Vụ Điếu Ngư/Senkaku thực tế là một vụ tranh chấp lãnh thổ lâu đời giữa hai cường quốc. Các hòn đảo không có người ở này, trong đó đảo lớn nhất (Uotsurijima) chỉ rộng có 3,5km2 và các đảo khác chỉ rộng khoảng vài hécta, nằm cách Okinawa (miền Nam Nhật Bản) 90 dặm về phía Tây. Chính phủ Mỹ trả lại các hòn đảo này cho Nhật Bản vào tháng 6/1971, nhưng cả Trung Quốc và Đài Loan đều đòi lại lý do quần đảo này được Trung Quốc phát hiện ra vào năm 1372, rồi được nhượng lại cho Nhật Bản cùng với Đài Loan thông qua hiệp ước Shimoniseki vào năm 1895. Như vậy các hòn đảo này trên thực tế thuộc về Đài Loan chứ không phải của trung Quốc…
Căng thẳng gia tăng xuýt nữa biến thành bạo lực vào tháng 9/2010, sau khi chính phủ Nhật Bản bắt giữ một tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Nhật Bản. để trả đũa việc thuyền trưởng tàu đánh cá nói trên bị bắt, Bắc Kinh sử dụng vũ lực kinh tế và dừng xuất khẩu đất hiếm của mình sang Nhật Bản trong một vài tuần lễ, trong khi đấy là nguyên liệu có tính sống còn đối với nền kinh tế Nhật Bản.
Liệu căng thẳng có xấu đi biến thành xung đột quân sự không? Ngày 14/9, Trung Quốc đưa 6 tàu thuộc Cục hải dương, một lực lượng bán vũ trang có một đội tàu lớn với 300 chiếc, đến nơi mà Tôkyô coi là vùng lãnh hải của mình xung quanh Senkaku. Đôi khi, Trung Quốc cũng đưa ra lời lẽ đe dọa rất mạnh. Bộ Quốc phòng nước này “cho mình quyền được áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc” đối với các hòn đảo này. Yu Zhirong, một quan chức cao cấp thuộc cục hải dương Trung Quốc, đẩy tình hình căng thẳng thêm khi nói: “Chúng tôi phải đuổi tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản khỏi vùng lãnh hải Trung Quốc. chung tôi không sợ nguy cơ dẫn đến xung đột quy mô nhỏ.” Thế nhưng, không ai có thể bảo đảm một cuộc xung đột ở biển Hoa Đông sẽ là “quy mô nhỏ” vì mối liên hệ chặt chẽ về quân sự giữa Nhật Bản và Mỹ.
Về phía Nhật Bản, mối đé dọa được cân nhắc thận trọng, như cuốn Sách Trắng Quốc phòng Nhật Bản mới nhất đã cho thấy. Từ cuối năm 2010, quân đội Nhật Bản đã được triển khai ở vùng Tây – Nam và số tàu ngầm đã tăng lên. Với sự hỗ trợ về quân sự của Mỹ, Nhật Bản có phương tiện để đối mặt với một chiến dịch quân sự của Trung Quốc hay răn đe để Trung Quốc không đi đến hành động này. Hơn nữa về phương diện kinh tế, mối quan hệ là rất quan trọng và, như người ta nói, đan xen vào nhau. Bắc Kinh có thể không cần đến Nhật Bản, đặc biệt để vận hành nền kinh tế của mình, không?
Không bên nào trong hai bên rốt cuộc muốn leo thang quân sự và cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều không muốn xảy ra xung đột quy mô lớn. Tuy nhiên, bầu không khí bi quan vấn bao trùm ở cả hai phía về triển vọng giải quyết hòa bình bất đồng lãnh thổ này, chủ yếu là do tâm lý thù địch và dân tộc chủ nghĩa trong dư luận Trung Quốc và Nhật Bản, được kích động nhằm mục đích nhằm  phục vụ chính sách đối nội.
Một câu hỏi được đặt ra: Điếu Ngư/Senkaku phải chăng là trận đánh cuối cùng? Theo ông Edouard Fflimlim, đồng thời là chuyên gia về các vấn đề địa chiến lược ở Đông Á, áp lực chống Nhật Bản không hề yếu đi ở Trung Quốc. Biểu tình, phô trương sức mạnh quân sự, đưa tàu đến vùng tranh chấp: Bắc Kinh muốn ngay lập tức giành chiến thắng trong trận Điếu Ngư.
Chính vì vậy, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Leon Panetta, lo ngại trước nguy cơ xung đột có thể xảy ra và trong chuyến thăm Bắc Kinh, cũng gặp phó chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, với dụng ý tháo ngòi nổ cuộc khủng hoảng. Đồng thời, trong chuyến thăm Nhật Bản trước đó, ông vẫn tuyên bố Mỹ “sẽ tôn trọng cam kết trong hiệp ước (an ninh 1960)” với Tôkyô, có nghĩa là bảo vệ lãnh thổ Nhật Bản. Hơn nữa ông còn kêu gọi các bên giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình.
Nhưng Bắc Kinh không có ý định lùi bước. Cho đến nay, Bắc Kinh vẫn luôn tránh đối đầu trực diện bằng cách chỉ đưa dân thường tới quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Tờ “nhân dân nhật báo” co biết một đội tàu đánh cá 1.000 chiếc đang trên đường tới vùng biển này và khẳng định nếu bị hải quân Nhật Bản quấy nhiễu, Bắc Kinh sẽ áp dụng biện pháp để bảo vệ họ. Để đối phương hiểu rõ thông điệp này, hải quân Trung Quốc tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật ở biển Hoa Đông…
Chính phủ Nhật Bản tiến hành nhiều cuộc họp liên tiếp để bàn cách đối phó với cuộc khủng hoảng. Phải làm gì đây nếu 1.000 tàu cá Trung Quốc có mặt ở vùng biển này? liệu có đi đến đối đầu quân sự với Trung Quốc không? Lập trường của Mỹ, nước được cho là phải giúp Nhật Bản bảo vệ các hòn đảo này trong khuôn khổ hiệp ước hố trợ, là như thế nào?
Trên thực tế, Tôkyô có ít hy vọng. Lợi ích kinh tế của nước này đều nằm ở Trung Quốc, đối tác thương mại chính của Nhật Bản đang trong thời kỳ bầu cử và không có sức mạnh cần thiết cho sự đối đầu. Kịch bản dễ xảy ra nhất, đối với Mỹ, là tạm thời từ bỏ các hòn đảo này cho Trung Quốc và Tôkyô từ chối tham chiến. Nhật Bản sẽ tiếp tục tuyên bố các hòn đảo này là của mình, còn Bắc Kinh sẽ lấy làm tự hào vì thực tế kiểm soát các đảo này. Còn Mỹ sẽ làm sao để củng cố vững chắc thêm nguyên trạng đó. Trong khi chờ dợi, Mỹ và cộng đồng quốc tế theo dõi chặt chẽ những diễn biến ở vùng biển tranh chấp.
Nhưng tình hình diễn biến theo chiều hướng trên sẽ tác động đến các nước láng giềng. Tại Đài Loan, người ta thấy rõ ràng là như vậy, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến xát hòn đảo theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa và dân chủ hơn. Không chắc người Đài Loan, vốn cũng đòi chủ quyền đối với Điếu Ngư/Senkaku, nằm cách bờ biển của mình khoảng 100 cây số, thích nhìn thấy cờ đỏ hơn là Nisshoki…
Hàn Quốc cũng sẽ không vui sướng gì nếu tình hình đó xảy ra. Nếu mất Senkaku, Nhật Bản sẽ phải rửa nhục bằng cách này hay cách khác. Qủa thực là các hòn đảo Liancourt (“Dokdo” trong tiếng Triều Tiên, “Takeshima” trong tiếng Nhật Bản) cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc xung đột lãnh thổ tương tự, nhưng lần này với một đối thủ Hàn Quốc yếu hơn nhiều. Ngày 18/9, mạng lưới ngoại giao của Nhật Bản đã được lệnh thông tin cho Hàn Quốc về cuộc xung đột với Trung Quốc. Vấn đề ở đây là hạn chế mức độ thất bại có thể có đối với Trung Quốc và xác định thời điểm cho trận hải chiến sắp tới.