Thứ Bảy, ngày 27 tháng 7 năm 2013

7. Bình luận về chính sách “trở lại Châu Á” của Mỹ

Email In PDF.
Việc Ngoại trưởng Mỹ John Kerry dự Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) ở Brunây hồi đầu tháng này trong chuyến công du chính thức đầu tiên tới Đông Nam Á, đã tái khẳng định chính sách “trở lại Châu Á” của Mỹ.
Theo đó, với sự hiện diện tại ARF, Ngoại trưởng Mỹ đã biến chuyến công du chính thức đầu tiên tới Đông Nam Á trở thành sự khẳng định lại chính sách "tái cân bằng" mà người tiền nhiệm Hillary Clinton đã khởi xướng. Trong bài viết đăng trên Tạp chí "Chính sách Đối ngoại" hồi tháng 10/2011, cựu Ngoại trưởng Hillary đã đề cập tới việc “xoay trục” ngoại giao và quân sự chiến lược của Mỹ sang Châu Á như là phần mở đầu cho “Thế kỉ Thái Bình Dương của nước Mỹ”. Trong đó có đoạn “các thị trường mở ở Châu Á tạo ra cho nước Mỹ những cơ hội chưa từng có về đầu tư, thương mại và tiếp cận công nghệ mới nhất… Về mặt chiến lược, duy trì hòa bình và an ninh tại Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiến bộ toàn cầu, thông qua việc bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những quốc gia lớn trong khu vực”. 
Thực tế cho thấy việc kêu gọi nước Mỹ tăng cường sự hiện diện ở Châu Á-Thái Bình Dương của bà Hillary không phải là lần đầu tiên Mỹ thể hiện “xoay trục” sang Châu Á. Chính quyền Tổng thống Barack Obama đã chuyển việc “xoay trục” thành sự “tái cân bằng” của Mỹ với Châu Á: làm sống lại các liên minh an ninh song phương; tái quan hệ với các cường quốc đang nổi, kể cả với Trung Quốc; tái can dự với các thể chế đa phương khu vực; và củng cố các đối tác kinh tế và chiến lược quân sự liên quan đến dân chủ hay nhân quyền. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á - như là các thực thể hậu thuộc địa - coi trọng sự tự do quyết định phương hướng chính sách của mình, với sự can thiệp tối thiểu từ các cường quốc. 
Trong thập niên 1950 và 1960, người Mỹ đã rất bực bội khi phải đối phó với những Sukarno của Inđônêxia, U Nu của Miến Điện, và đôi lúc là cả Lý Quang Diệu của Xinhgapo. Trong nỗ lực hướng đến việc kiến thiết đất nước, hầu hết chính sách đối ngoại của các nước Đông Nam Á đều được tái định hướng nhằm củng cố không gian nội bộ bằng cách tối đa hóa những không gian trung lập bên ngoài. Và Chiến tranh Lạnh không ảnh hưởng đến những tiến triển trong nước đó. Với Miến Điện (giờ đây là Mianma), Campuchia, Inđônêxia, Malaixia và Xinhgapo, chính sách đối ngoại đồng nghĩa với việc đảm bảo rằng các cường quốc sẽ không hóa thành con hổ ăn thịt họ khi màn đêm buông xuống. 
Về hình thức, sự tái phân chia lực lượng của Mỹ gợi nhớ đến SEATO (Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh): đồn trú lực lượng thủy quân lục chiến ở Darwin, Ôxtrâylia; điều tàu tuần duyên đến Xinhgapo; và tái khẳng định các cam kết an ninh dường như “đao to búa lớn” với Philíppin, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, những động thái đó không thể cản trở được thực tế về một khối 10 quốc gia thành viên ASEAN có tư tưởng độc lập và đang trở nên tự tin hơn, trong đó có hai đồng minh chính thức của Mỹ là Philíppin và Thái Lan. 
Từ Brunây đến Campuchia, Malaixia và Thái Lan, tất cả đều hoan nghênh sự tái hiện diện mạnh mẽ của Mỹ nhằm làm đối trọng với một Trung Quốc hiếu chiến, và thực hiện theo đúng tinh thần chủ nghĩa đa phương mở và linh hoạt, với sự tham gia của Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốxtrâylia, Nga và Liên minh châu Âu. ARF chính là một hình thức của chủ nghĩa đa phương mở này. Ưu điểm của chính sách tái cân bằng của Mỹ là vai trò “sen đầm khu vực” của Washington vốn có thể gây xung đột trong dư luận sẽ được lẩn khuất đi. Thay vào đó, với tư cách là một vị khách được chủ nhà chân thành chào đón, Mỹ sẽ đường hoàng ngồi vào bàn trong sự hoan nghênh. Washington sẽ được những người bạn chân thật đón tiếp, dù rằng đôi khi họ cũng không công khai cảm tình này. 
Điều đáng nói là trong một hồ sơ hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao Mỹ đề tháng 7/1949, chính phủ Mỹ đã "nhen nhóm" chính sách "xoay trục". Mỹ muốn che đậy sự can thiệp mang tính đế quốc của mình bằng cách khuyến khích người Ấn Độ, người Philíppin và các quốc gia Châu Á khác đảm nhận vai trò công khai trong những vấn đề chính trị. 
Emrys Chew là Trợ lý Giáo sư về Lịch sử và Alan Chong, Phó giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Khoa Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang. Bài viết đăng trên trang RSIS.
Vũ Hiền (gt)