Thứ Sáu, ngày 13 tháng 7 năm 2012

15.An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất

19:50' 9/7/2012
TCCS - Quan tâm chăm lo cuộc sống cho mọi người dân là bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã coi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khát khao mong muốn lớn nhất là: “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó chính là những tư tưởng và hành động vì một xã hội an sinh, nhân bản, là cơ sở cho việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện trong toàn bộ quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước.


Thực trạng hệ thống an sinh xã hội ở nước ta
Những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Các chương trình, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng:
Về giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và giảm nghèo
- Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, như chương trình cho vay vốn ưu đãi giải quyết việc làm, dạy nghề, xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động... đã thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm. Hằng năm đã giải quyết việc làm cho 1,6 triệu lao động; trong đó tỷ lệ thất nghiệp chung giữ ở mức 2,3%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 6,3% năm 2000 xuống 4,17% năm 2011; thu nhập bình quân của người lao động năm 2011 đạt 2,27 triệu đồng/tháng.
- Các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh, từ 22% năm 2006 xuống còn 9,5% năm 2011; thu nhập bình quân của hộ nghèo năm 2010 tăng 2,3 lần so với năm 2005.
- Bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển đáng kể, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2011 đạt 10,1 triệu người, bằng gần 20% lực lượng lao động; bảo hiểm xã hội tự nguyện thu hút được trên 104 nghìn người tham gia; trên 7,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân. Số người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tăng nhanh, từ 700 nghìn người (năm 2007) lên 1,674 triệu người (năm 2011), chiếm 2% dân số; phong trào xã hội hóa chăm sóc đối tượng chính sách được mở rộng, năm 2011 cả nước có khoảng 580 cơ sở bảo trợ xã hội, hơn 1/3 trong số đó là các cơ sở ngoài nhà nước, nuôi dưỡng 20.000 người. Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội thường xuyên, người già cô đơn, người khuyết tật nặng và tâm thần, trẻ mồ côi... được hỗ trợ, cuộc sống đã ổn định về cơ bản.
Công tác trợ giúp đột xuất được tăng thêm và phát huy hiệu quả. Mỗi năm Nhà nước chi khoảng 1.000 tỉ đồng và khoảng 50 - 60 ngàn tấn gạo  hỗ trợ người dân ở các địa phương khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống; các phong trào tương thân, tương ái có đóng góp đáng kể vào hỗ trợ đột xuất cho cộng đồng  gặp rủi ro.
Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác.
- Giáo dục đã cơ bản hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở các cấp tăng đều hằng năm; mỗi năm dạy nghề cho 1,8 triệu lao động; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08 lần; quy mô giáo dục đại học tăng 2,35 lần; năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, lao động qua đào tạo nghề là 25%; đã hình thành trên 10.000 trung tâm học tập cộng đồng và gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe đạt nhiều kết quả nổi bật: năm 2011, 90% số trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; mạng lưới y tế thôn bản được củng cố; tuổi thọ trung bình của người dân đạt 73,2 tuổi; số lượng người tham gia bảo hiểm y tế đạt 58,5 triệu người, chiếm 67% dân số cả nước.
- Điều kiện về nhà ở được cải thiện là kết quả của việc triển khai hàng loạt chính sách, chương trình hỗ trợ về nhà ở của Chính phủ cho người nghèo, học sinh, sinh viên, công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung và người có thu nhập thấp tại đô thị; chương trình xóa nhà tạm cho hộ nghèo trong giai đoạn 2001 - 2010 đã đưa tỷ lệ hộ gia đình thuộc diện này giảm từ  24,6% xuống 5,6%.
- Giai đoạn 2005 - 2010, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đã tăng từ 62% lên 80%. 
- Thông tin truyền thông cho người nghèo, vùng nghèo được thực hiện thông qua chính sách cấp miễn phí một số loại báo, tạp chí...  Đến nay, Nhà nước đã cấp miễn phí 18 tờ báo, tạp chí và 20 loại ấn phẩm chuyên đề, báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn với tổng lượng phát hành hằng năm trên 31 triệu bản. Hệ thống phát thanh, truyền hình cơ bản phủ sóng đến thị trấn, thị tứ, bản dân cư tập trung vùng cao, nhiều địa phương đã có chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc.
Nguồn lực cho an sinh xã hội được xã hội hóa cao cả về tài chính và tổ chức thực hiện. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã huy động sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp và sự tham gia của người dân. Giai đoạn 2003 - 2011, tổng chi cho an sinh xã hội liên tục tăng, bình quân mỗi năm chi 95 nghìn tỉ đồng, bằng 6,6% GDP, trong đó, ngân sách nhà nước chiếm 51% mức tổng chi.
Một số hạn chế cần khắc phục
- Công tác tạo việc làm chưa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn có xu hướng tăng từ 1,05% năm 2000 lên 2,27% năm 2011. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, năm 2010 lao động nông nghiệp vẫn chiếm 50% tổng số lao động, ở vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ này là trên 92%.
- Giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo còn rất cao. Bất bình đẳng có xu hướng tăng, hệ số GINI tăng từ 0,35 năm 1998 lên hơn 0,4 năm 2010.
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp, mới bằng 20% lực lượng lao động (năm 2011). Bảo hiểm bắt buộc mới bao phủ 70% lao động thuộc diện bắt buộc tham gia, nguy cơ mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội cao; bảo hiểm xã hội tự nguyện mới thu hút 0,22% số lao động thuộc diện tham gia...
- Diện được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên còn hẹp, mức chuẩn trợ cấp thấp; xã hội hóa công tác chăm sóc người yếu thế chưa phát huy hết tiềm năng của cộng đồng và xã hội; tỷ lệ bao phủ của chính sách hỗ trợ cũng như mức trợ cấp còn thấp, chưa tách bạch rõ nhiệm vụ xác định đối tượng và chi trả.
- Phạm vi hỗ trợ rủi ro đột xuất còn hẹp, mức hỗ trợ chưa bù đắp, khắc phục được thiệt hại.
- Kết quả bảo đảm giáo dục tối thiểu, thực hiện mục tiêu phổ cập trung học cơ sở tại nhiều huyện miền núi, dân tộc thiểu số, còn thấp; tỷ lệ giáo dục nghề nghiệp thấp, năm 2010, vẫn còn trên 60% lao động chưa được đào tạo, trên 90% lao động là đồng bào dân tộc thiểu số chưa được đào tạo.
- Mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân chưa đạt: mới có 46% số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; năm 2011, còn 33% số dân chưa tham gia bảo hiểm y tế.
- Vẫn còn hơn 900 nghìn hộ nghèo đang ở nhà tạm; tại vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, nhà ở chưa bảo đảm đủ chống đỡ các nguy cơ; 80% công nhân đến làm việc tại các khu công nghiệp ở những căn nhà thuê chưa được bảo đảm điều kiện tối thiểu về vệ sinh, điện, nước sạch và các dịch vụ khác.
- Vẫn còn tới 80% số người dân vùng cao, vùng núi thiếu nước hoặc sử dụng nước không bảo đảm vệ sinh.
- Thông tin truyền thông cho người nghèo, vùng nghèo còn nhiều hạn chế, vẫn còn 1.800 xã, chiếm 16,4% số xã phường cả nước, chưa có đài truyền thanh xã.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:  nhận thức về vai trò của an sinh xã hội của cơ quan quản lý các cấp và một bộ phận cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ; năng lực xây dựng chính sách an sinh xã hội còn hạn chế, việc tổ chức thực hiện ở các cấp, nhất là cấp cơ sở còn nhiều bất cập, sự phối hợp, lồng ghép các nguồn lực thực hiện các chính sách thấp; mức độ xã hội hóa chưa đủ, chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng xã hội vào việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội; việc khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tự an sinh còn hạn chế; việc tổng kết, đánh giá để điều chỉnh các chương trình an sinh xã hội còn chậm trễ.
Quan điểm và cách tiếp cận an sinh xã hội giai đoạn 2012 - 2020
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung rất nhiều chính sách để hỗ trợ người dân bảo đảm mức thu nhập tối thiểu thông qua các chính sách, chương trình xóa đói, giảm nghèo; các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là 16 chương trình quốc gia, trong đó có 6 chương trình tập trung hỗ trợ người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông...
An sinh xã hội là một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về việc làm, thu nhập; trợ giúp xã hội cho các nhóm dân cư có hoàn cảnh khó khăn; bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong việc phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục các rủi ro do mất việc làm, ốm đau, tàn tật, tuổi già, thiên tai, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường... dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Phạm vi của an sinh xã hội gồm:
Nhóm 1: Bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo, gồm các chính sách tạo việc làm, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội và các chương trình bảo hiểm khác cho người lao động, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm, người lao động trong các hộ nghèo, người lao động bị thiếu việc làm, người lao động nông thôn, lao động phi chính thức và những người lao động khác.  
Nhóm 2: Trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, cho các nhóm có hoàn cảnh khó khăn bao gồm: trẻ em mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, người khuyết tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc gia đình nghèo, người đơn thân đang nuôi con dưới 16 tuổi, người gặp rủi ro, thiên tai.
Nhóm 3: Bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông. Tập trung ưu tiên người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, người dân nông thôn và các đối tượng khác.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 trở thành nước có thu nhập trung bình và hệ thống an sinh xã hội hướng tới bao phủ toàn dân. Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể và những hạn chế nhất định về nguồn lực, an sinh xã hội cần phát triển theo hướng:  1 - Phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; 2 - Tập trung hỗ trợ người nghèo, người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh đặc thù; 3 - Tiếp tục mở rộng xã hội hóa việc huy động nguồn lực thực hiện an sinh xã hội;  4 - Tranh thủ sự hợp tác quốc tế.
Mục tiêu cơ bản và những nhiệm vụ chủ yếu về an sinh xã hội
Mục tiêu tổng quát về an sinh xã hội ở Việt Nam là cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện thông qua việc  Nhà nước tạo cơ chế để mọi người dân có quyền được tham gia việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phổ cập giáo dục. Nhà nước hỗ trợ cho các nhóm yếu thế, các đối tượng đặc thù, trong đó, hỗ trợ toàn bộ cho người có hoàn cảnh khó khăn tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, tiếp cận đến giáo dục, nước sạch, thông tin truyền thông và các trợ giúp xã hội khác; hỗ trợ một phần cho người thất nghiệp, người cận nghèo, người dân có mức thu nhập dưới trung bình,... để nhóm đối tượng này có điều kiện tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho từng lĩnh vực như sau:
Về hỗ trợ tạo việc làm tăng thu nhập, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách hỗ trợ học nghề, chính sách hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn.
Về giảm nghèo, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 80/2011/NQ-CP ngày 19-5-2011 của Chính phủ về “Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2020” và các chương trình, chính sách giảm nghèo, tập trung ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn.
Về phát triển bảo hiểm xã hội, tiếp tục tăng nhanh đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo đảm tính bền vững của Quỹ bảo hiểm thông qua việc hoàn thiện tổ chức quản lý và chi trả bảo hiểm xã hội; nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ cho người lao động khu vực phi chính thức có thu nhập dưới mức trung bình tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung để người lao động có thể tham gia bảo hiểm hưu trí ở mức cao hơn; sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội để mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến các doanh nghiệp có quy mô dưới 10 lao động, hoàn thiện các chế độ và điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp, nâng cao hiệu quả hỗ trợ học nghề, giới thiệu việc làm cho lao động thất nghiệp.
Về trợ giúp thường xuyên, xây dựng mức sống tối thiểu làm căn cứ để xác định đối tượng và mức hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên. Sửa đổi, bổ sung các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên theo hướng mở rộng đối tượng và nâng dần mức trợ cấp, tăng cường hỗ trợ tốt hơn cho trẻ em thuộc các hộ nghèo. Mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc các nhóm đối tượng yếu thế dựa vào cộng đồng.
Về trợ giúp xã hội đột xuất, mở rộng diện được hưởng đến các đối tượng bị tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Chính thức hóa việc hình thành quỹ dự phòng trợ giúp đột xuất tại các địa phương.
Về bảo đảm giáo dục tối thiểu, mở rộng và tăng cường các chế độ hỗ trợ đối với các nhóm dân cư, đặc biệt là trẻ em, thanh, thiếu niên thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn được tham gia giáo dục, đào tạo và dạy nghề.
Về bảo đảm y tế tối thiểu, đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, mở rộng chính sách hỗ trợ phí mua bảo hiểm y tế cho người dân có thu nhập từ dưới trung bình hiện chưa bắt buộc tham gia; cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Về nhà ở, tiếp tục thực hiện chương trình xóa nhà tạm cho 500 nghìn hộ nghèo đến năm 2013 và 900 nghìn hộ nghèo đến năm 2020; đổi mới cơ chế hỗ trợ nhà ở cho người thu nhập thấp.
Về nước sạch, tập trung cải thiện tình hình cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân cư  bị xâm thực do nước biển dâng.
Về thông tin, truyền thông, củng cố và phát triển mạng lưới thông tin cơ sở bảo đảm đưa thông tin nhanh chóng, phù hợp với các tầng lớp nhân dân, nhất là với đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo.
Các nhóm giải pháp chủ yếu
1 - Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong việc thực hiện an sinh xã hội; cụ thể hóa các mục tiêu an sinh xã hội được đề ra trong các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ hằng năm của các cấp ủy đảng; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chương trình, chính sách an sinh xã hội.
2 - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân; phổ biến, giới thiệu các chính sách, chương trình an sinh xã hội đang triển khai; tăng cường công tác thông tin, truyền thông về an sinh xã hội, chú trọng đến người dân, nhất là các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động xã hội, như “Ngày vì người nghèo”, “Tương thân tương ái”, “Xây dựng nhà tình nghĩa”...
3 - Tăng cường quản lý nhà nước về an sinh xã hội, rà soát, đánh giá toàn diện các chính sách an sinh xã hội hiện hành. Tiếp tục thực hiện các chính sách có hiệu quả, điều chỉnh những chính sách đang còn bất cập và bổ sung một số chính sách mới; tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ chuyên môn, nghiệp vụ và cán sự xã hội; xây dựng chính sách khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng an sinh xã hội; xây dựng bộ chỉ số an sinh xã hội làm cơ sở theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện an sinh xã hội trong từng thời kỳ và tham chiếu với quốc tế.
4 - Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an sinh xã hội, tranh thủ nguồn lực quốc tế, hợp tác chuyên gia, phát triển các dự án kỹ thuật để thí điểm các chính sách, chương trình mới và nâng cao năng lực nghiên cứu, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá việc thực hiện đề án; xây dựng Báo cáo quốc gia về an sinh xã hội.
- Về huy động nguồn lực thực hiện, giai đoạn 2012 - 2020, Nhà nước tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, các nhóm yếu thế, đồng thời thực hiện xã hội hóa rộng hơn thông qua việc tăng tỷ trọng đóng góp của cá nhân và tổ chức trong tổng chi về an sinh xã hội.
Trong giai đoạn 2012 - 2020, bình quân mỗi năm phải bảo đảm tổng chi cho an sinh xã hội đạt khoảng 13,5% GDP. Trong đó, phần ngân sách nhà nước chiếm khoảng 30% tổng chi an sinh xã hội và khoảng 11,5% tổng chi ngân sách nhà nước./.
Nguyễn Trọng ĐàmThứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội