Thứ Bảy, ngày 28 tháng 7 năm 2012

36. Cuộc khủng hoảng châu Âu và những giải pháp


THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt
Chủ nhật, ngày 17/6/2012
TTXVN (Angiê 14/6)
Khi châu Âu làm cả thế gii lo ngại
Cuộc khủng hoảng đồng euro, theo bà Sylvie Matelly, Giám đốc nghiên cứu thuộc Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp (IRIS), cho thấy mọi kẽ hở về chính trị trong công cuộc xây dựng châu Âu và những nguy cơ nảy sinh từ một khu vực tiền tệ không tối ưu, nhưng trước đây không được tính tới. Cho dù được các nhà lãnh đạo châu Âu, các quốc gia và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) áp dụng từ ba năm nay, các biện pháp vẫn bị phê phán vì chúng quá muộn và không đủ.
Nếu như cách đây 9 năm, không nước nào để ý đến tình hình châu Âu, thì hiện nay điều đáng ngạc nhiên, như chuyên gia Sylvie Matelly phân tích trên tạp chí “Affaires Stratégiques”, có thể là mối quan tâm của các nước khác trên thế giới đối với cuộc khủng hoảng này. Tổng thống Mỹ khi vừa đắc cử liền đi thăm châu Á rồi sau đó mới đến các nước châu Âu. Bây giờ đến cả tổng thống Braxin cũng nói về khủng hoảang châu Âu và mong muốn các nước châu lục này áp dụng các biện pháp cần thiết để giải quyết cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng cho thấy chỉ có các thị trường tài chính từ nhiều năm nay đã nhận thấy sự tiến triển này: khu vực đồng euro trở thành một tác nhân hệ thống, nghĩa là một tác nhân trung tâm của hệ thống kinh tế thế giới, giống như Mỹ và có thể còn hơn cả Trung Quốc (tương lai sẽ khẳng định nước này có bị khủng hoảng tài chính như một số nhà quan sát dự báo hay không). Điều đó có nghĩa là nếu châu Âu sụp đổ, cả thế giới sẽ gánh chịu hậu quả. Việc các thị trường tài chính ý thức được điều đó cho thấy một phần tại sao cuộc khủng hoảng nợ công ở một nước, dù chỉ thuộc hạng thứ yếu trong khu vực đồng euro, dẫn tới tình hình bùng nổ ở châu Âu và gây ra biết bao phản ứng trên thế giới.
Làm sao khu vực đồng euro chỉ trong vài năm lại trở thành một tác nhân hệ thống trong khi Liên minh châu Âu, mặc dù trải qua nhiều thập kỷ xây dựng, không được như vậy? Theo bà Sylvie Matelly, có nhiều yếu tố để giải thích điều đó.
Thứ nhất, có thế kể ra vai trò ngày càng lớn của đồng euro ở cấp độ quốc tế. Đối với nhiều nước, trước hết là Nga và Trung Quốc, việc phát hành đồng euro được xem như một cơ hội để đa dạng hóa nguồn dự trữ ngoại hối cho đến lúc đó chủ yếu bao gồm đồng USD, một ít vàng và đồng yên Nhật (thậm chí cả đồng mác Đức vào một thời điểm nào đó). Tình hình tiến triển tương đối chậm, nhưng không phải vì thế mà không mang nhiều ý nghĩa. Đa số Ngân hàng trung ương của phần lón các nước trên thế giới giữ tài sản bằng đồng euro vốn có xu hướng tăng thêm giá trị trong những năm gần đây nhờ đồng tiền này được đánh giá tương đối cao so với đồng USD.
Thứ hai, khu vực đồng euro làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước châu Âu và nguy cơ xảy ra hiệu ứng đôminô, thậm chí ở ngay trong lòng khu vực. Khu vực này vẫn ỉlà một pháo đài tương đối ít cởi mở đối với các nước khác trên thế giới, mà gần giống một vùng kinh tế tự chủ trong đó người tiêu dùng ở các nước Nam là chính trong khi các cơ sở công nghiệp tập trung ở các nước Bắc. Trong một nước, chẳng hạn như Pháp, tình trạng đó gây ra hậu quả tương đối hạn chế: nền kinh tế ở miền Nam thích ứng với sự phát triển du lịch và dân số già đi. Các kỹ sư thuộc vùng Midi đến định cư ở Toulouse, Nantes hay Pari do không tìm được việc làm ở vùng duyên hải. Thông qua chính sách ngân sách, hoạch định lãnh thổ hay các chính sách khác, Nhà nước tiến hành những chuyển dịch cần thiết nhằm cân bằng những sự khác biệt đó. Không ai thấy khó chịu khi thấy vùng này được hưởng nhiều dịch vụ xã hội hơn vùng khác và có những vùng tài trợ mô hình xã hội cao hơn mức trung bình.
Ở quy mô châu Âu, tái cân bằng như vậy không thể thực hiện được như thể lòng yêu nước nào đó (thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc” có lẽ là rõ ràng hơn, nhưng trong trường hợp châu Âu có thể dẫn đến cách hiểu gây tranh cãi và gây sốc) vẫn đang tiếp tục chi phối mối quan hệ giữa các nước, hay không ai hoàn toàn chấp nhận công cuộc xây dựng châu Âu thành một khu vực hòa bình và thịnh vưọng sau khi đã “tẩy rửa những niềm tự hào dân tộc”. Thật khó để trả giá hộ các nước thuộc “Câu lạc bộ Địa Trung Hải” sau khi đã phải nỗ lực và hy sinh để khôi phục nền kinh tế, làm cho nó có sức cạnh tranh mạnh hơn và thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa hơn. Trong khu vực đồng euro không phải chỉ có Đức mới có quan niệm như vậy… Tuy nhiên, vận mệnh của các nước châu Âu gắn kết họ với nhau và họ không còn sự lựa chọn nào khác.
Đồng thời, cho dù tương đối tập trung vào châu lục, song nền kinh tế châu Âu không phải vì thể mà trở thành một thị trường kém quan trọng đối với các nước bên ngoài. Châu Âu là khách hàng số một của Trung Quốc, Ấn Độ hay Nga hiện nay, và là một đối tác hàng đầu của Mỹ. Từ quan điểm đó có thể nói rằng nền kinh tế trong khu vực đồng euro chững lại có thể khiến các nước này lo ngại và tác động xấu đến thương mại quốc tế cũng như nền kinh tế thế giới. Chủ tịch Hội đồng kinh tế Nhà Trắng, Alan Kryeger, cho rằng cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro có nguy cơ tác động đến tăng trưởng kinh tế Mỹ. Các nước mới trỗi dậy cũng sợ sóng xung kích từ châu Âu lan đến mình.
Ông Jérôme Creel, giáo sư kinh tế thuộc trường Đại học Thương mại Pari (ESCP Europe), một mặt cho rằng không hoàn toàn như vậy, mặt khác thừa nhận những tuyên bố như trên nhằm mục đích duy trì sức ép đối với châu Âu, từ đó có lợi cho các nước khác. Theo ông, tăng trưởng thế giới không phụ thuộc vào những gì đang diễn ra ở châu Âu vì cuộc khủng hoảng tài chính làm thay đổi địa kinh tế một cách sâu sắc khi khẳng định vị trí quan trọng của châu Á. Quả thực là Trung Quốc cần có nhiều trang thiết bị của Đức, và các doanh nghiệp nước này ngày càng muốn đưa sản xuất sang Trung Quốc để tiếp cận khách hàng của mình tốt hơn. Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng của châu Âu, đồng thòi làm giảm tác động đến tăng trưởng của các nước khác.
Một yếu tố khác giúp khu vực đồng euro có được tầm cỡ hệ thống là tính tự chủ tương đối của nó xuất phát từ vai trò và sự can dự của các ngân hàng châu Âu. Trong thời gian đầu diễn ra cuộc khủng hoảng năm 2009, người ta nhanh chóng tìm ra thủ phạm: đó là một ngân hàng lớn của Mỹ đã sử dụng kỹ thuật tài chính phức tạp để cài bẫy một Chính phủ Hy Lạp tham nhũng và tiêu hoang. Rồi dần dần các ngân hàng châu Âu trở nên sơ hở hơn người ta tưởng. Hậu quả trực tiếp là một nước không có khả năng thanh toán một phần hay toàn phần sẽ gây ra thiệt hại khổng lồ đối với các thể chế tài chính châu Âu.
Tình trạng đó có thể gây ra một cuộc khủng hoảng mới trong hệ thống tài chính thế giới với 8/10 thể chế hàng đầu được quốc tế hóa rộng rãi nhất thuộc về châu Âu (theo kết quả xếp hạng cho năm 2009 được tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển [UNCTAP] công bố năm 2010, trong đó có BNP Paribas, Allianz Generali, Société Générale, Unicredito Italiano, HSBC, Axa và Deutsche Bank). Các ngân hàng châu Âu cũng nhờ thị trường duy nhất với đồng tiền duy nhất (thậm chí cả một hệ thống luật pháp không đủ sức kiểm soát) mà trở thành các tác nhân hệ thống “quá lớn” để được thừa nhận là “không thể đổ vỡ được”.
Là một tác nhân hệ thống dẫu sao vẫn gây ra hậu quả chính trị cơ bản. Vai trò đó dẫn đến một số trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm chính trị, dù cái giá phải trả là như thế nào, phải cứu nền kinh tế và các tác nhân kinh tế thuộc khu vực đồng euro. Chuyên gia Syivie Matelly đưa ra ba giải pháp có thể giúp châu Âu thoát khỏi khủng hoảng.
Nhận thức và tình đoàn kết kinh tế phải là việc của tất cả các nước thành viên. Các nước này phải chấp nhận trong một nền kinh tế nào đó, chuyển dịch là điều thiết yếu để tránh gây mất cân bằng (nếu không phải tính tới khả năng đầu tư vào sản xuất cho phép các nền kinh tế kém phát triển nhất châu Âu đuổi kịp và nâng cao tính cạnh tranh của mình).
Một số ý kiến khác cho rằng cần chấp nhận siết chặt ngân sách hơn nữa: trong một khu vực đồng tiền chung như vậy, không thể hành xử như một đứa trẻ được nuông chiều tiêu không tính toán (mà không nghĩ xem sẽ thu được gì) đồng tiền không phải của mình. Không thể để các nước khác cạnh tranh với mình thông qua các chính sách thuế hay kinh tế khác. Cũng không thể phung phí nguồn tài chính có hạn để phát triển các hệ thống phòng thủ (trang thiết bị và công nghệ) mang tính cạnh tranh kể cả khi hệ thống này được dùng để chống các mối đe dọa tương ứng. Cũng cần tạo cho ngân hàng trung ương của vùng nào đó phương tiện để thực hiện chính sách tiền tệ “hoàn chỉnh”, để trở thành một khâu vững chắc và có tính quyết định đối với hoạt động kinh tế và tài chính, và bảo đảm cho ổn định và độ tin cậy của khu vực đồng tiền chung.
Ông Jérôme Creel, đồng thời là Phó Giám đốc Bộ phận nghiên cứu thuộc Cơ quan dự báo kinh tế Pháp (OFCE), đồng tình với giải pháp trên vì cách giải quyết không dứt điểm của châu Âu gây thêm căng thẳng về món nợ khiến chính sách siết chặt ngân sách trở nên cấp thiết hơn. Hạn chế ngân sách, kể cả ở Đức, gây tác hại đáng kể trước hết đến tăng trưởng của châu Âu, sau đó đến các đối tác ở châu Á, châu Mỹ hay các nơi khác. Do tình trạng lây lan đó, Đức mất ít nhất một điểm tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội trong hai năm 2011 và 2012, từ đó phải giảm cầu về hàng tiêu dùng nhập khẩu khiến các đối tác ở trong và ngoài khu vực đồng euro lo ngại. Đối với Pháp, Italia và Tây Ban Nha cũng như vậy: tăng trưởng chững lại gây nghi ngại đối với khả năng thực hiện cam kết của các nền kinh tế này. Nếu không có người vay, độ bất ổn tài chính sẽ gia tăng tỷ lệ thuận với thông báo cắt giảm ngân sách các loại, bởi lẽ lòng tin của thị trường bị phá vỡ. Lúc đó châu Âu sẽ như rắn không đầu. Tình hình bất ổn đó có thể lan sang các nền kinh tế khác. Điều đó giải thích tại sao Mỹ đưa ra nhũng tuyên bố lo ngại như đã nói ở trên.
Các nước châu Âu, theo bà Sylvie Matelly, cũng phải chấp nhận minh bạch hơn và hội nhập sâu rộng hơn: công cuộc xây dựng châu Âu về chính trị lúc này là tối cần thiết. Muốn vậy, các nước phải chấp nhận thiệt thòi lớn hơn về chủ quyền, còn công dân các nước phải chấp nhận trở thành công dân châu Âu. Điều đó không phải là dễ (một số nước thậm chí nói rằng không thể), nhưng hội nhập chính trị lúc này là giải pháp cho khủng hoảng, còn hơn cả giải pháp phá vỡ khu vực đồng euro hay đưa một số nước ra khỏi tổ chức này.
Vật vã, nhưng sẽ không chết
Theo đánh giá của nhà phân tích kinh tế Eric Le Boucher trên tạp chí “Statafrik”, châu Âu vẫn còn giải pháp để thoát khỏi khủng hoảng, khu vực đồng euro sẽ tiếp tục vùng vẫy trong vũng bùn, nhưng không bị chìm xuống. Cho dù một số nước châu Âu, trong đó có Pháp, bị công ty xếp hạng tín đụng Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm, nhưng việc đó cũng không giải quyết được gì.
Kịch bản châu Âu năm 2012 hiện ra đúng như một số nhà kinh tế dự báo: thoát được ra là tốt rồi. Trong báo cáo “Triển vọng kinh tế”, Tổ chức họp tác và phát triển kinh tế (OECD) diễn giải cụm từ trên là “kịch bản của những biện pháp nửa vời”, nghĩa là nói cùng một sự việc đó, nhưng bằng cách khác.
Thủ tướng Italia, Mario Monti, dường như đã thuyết phục được Thủ tướng Đức, Angela Merkel, tăng cường quỹ cứu trợ khu vực đồng euro với tên gọi chính thức là Cơ chế ổn định châu Âu (MES), một cái tên nói lên nhiều điều… Việc tăng cường là tối cần thiết để trấn an các thị trường tài chính về sức mạnh của biện pháp chữa cháy. Thủ tướng Merkel hiểu ra vấn đề và thậm chí bà còn cho thấy mình đã đồng ý để thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực đồng euro. Dĩ nhiên bà nói ra điều đó “với tư cách cá nhân”. Điều này là quá dễ hiểu vì bà Merkel còn phải thuyết phục Quốc hội Đức.
Nhưng những tuyên bố của Thủ tướng Angela Merkel cho thấy đường lối của Đức đã có sự chuyển hướng cơ bản. Nước này hiểu ra rằng chỉ một mình mình thắt lưng buộc bụng là không đủ, mà cũng phải hỗ trợ hoạt động của tất cả các nước châu Âu khác.
Tại sao Béclin thay đổi lập trường như vậy? Đó là do rạn nứt ngày càng sâu giữa các nước Bắc Âu và các nước Nam Âu. Suy thoái lan rộng bất kể các nước nạn nhân là ai: tỷ lệ tăng trưởng là -3% ở Hy Lạp, -3,2% ở Bồ Đào Nha, -0.5% ở Itaiia, trong khi ở Đức là +0,6% (sau khi tăng +3% vào năm 2011) và +0,3% ở Hà Lan. Pháp đang dao động giữa hai tiểu vùng này.
Nhưng theo ông Merryl Lynch, nhà kinh tế trưởng ở châu Âu của Bank of America, con số về nạn thất nghiệp nói lên nhiều điều hơn: tình hình việc làm được cải thiện hơn so với thời kỳ đầu khủng hoảng ở Áo, Đức, Phần Lan, Bỉ và Hà Lan trong khi công ăn việc làm suy sụp ở miền Nam châu Âu. Như vậy hỗ trợ hoạt động kinh tế có thể được thực hiện dưới hình thức nào? Pháp và Đức thấy có thể có ba giải pháp: hài hòa các chính sách việc làm, sử dụng quỹ cơ cấu “hiện nay không được sử dụng đúng mục đích” và tài trợ các dự án hạ tầng châu Âu.
Tất cả tuy vẫn lình xình, nhưng cộng với các quy định tài chính mới nghiêm ngặt hơn, các biện pháp trên vẫn có thể cho phép tiến thêm một bước nhỏ theo hướng có lợi.
Nhưng làm thế nào đế thúc đấy nhanh? Phải làm gì khác nữa để giải quyết vấn đề khác biệt trong nội bộ châu Âu? Câu trả lời, theo chuyên gia Eric Le Boucher, là rất phức tạp.
Áp đặt một kế hoạch thắt lưng buộc bụng ngặt nghèo, xóa bỏ một số vị trí viên chức, cắt 40% thu nhập của viên chức, buộc Hy Lạp phải đóng thuế, xây dựng chính quyền… Tất cả các biện pháp đó đều sẽ dẫn đến thất nghiệp, không hiểu nhau, bực tức. Các cuộc tranh luận vẫn đang tiếp diễn về trách nhiệm, kế hoạch thắt lưng buộc bụng, giải pháp thay thế, kể cả giả thiết ra khỏi khu vực đồng euro. Ba vấn đề được đặt ra: trái phiếu châu Âu, chế độ liên bang tài chính và phối hợp chặt chẽ hơn về kinh tế.
Về trái phiếu châu Âu, không có ví dụ nào trong lịch sử về việc thành lập một chủ thể chính trị mà không đồng thời lập ra một công cụ tài chính thích hợp. Loại trái phiếu này sẽ cho phép 17 nước thành viên khu vực đồng euro cùng nhau kiểm soát và chia sẻ món nợ của mình. Điều đó cũng có nghĩa là trái phiếu châu Âu phải được thiết kế làm sao để có thể được chia sẻ giữa các nước thành viên khu vực này. Muốn phát hành loại trái phiếu này cần phải có các ngân hàng xuyên châu Âu và cơ chế giám sát chung. Vấn đề là các ngân hàng mang tính chất quốc tế khi còn hoạt động, nhưng chỉ còn tính chất quốc gia khi ngừng hoạt động.
Phối hợp kinh tế là một thứ rất khó định hình. Phối họp về cái gì đây? Có nhiều vấn đề được đề cập đến. Trước hết là lạm phát. Sự khác biệt về giá giữa các bang của Mỹ không vượt quá 8% trong khi ở châu Âu lên tới 26% giữa Hy Lạp và Đức, 16% ở Tây Ban Nha, 14% ở Ai Len và 12% ở Bồ Đào Nha. Hậu quả là phải làm sao để tiền lương không được chênh lệch nhau quá. Người ta cũng nhận thấy rằng khu vực đồng euro cần phải có giám sát về tiền lương, nói cách khác là phải có sự hài hòa mang tính xã hội.
Về Hy Lạp, mục tiêu trở lại với mức nợ tương ứng với 120% Tổng sản phẩm quốc nội, là tốt. Không ai phản đối phần này trong kế hoạch. Nhưng để làm được điều đó, phải yêu cầu các ngân hàng xóa bỏ 50% món nợ của Hy Lạp. Đồng thời, để củng cố các ngân hàng trước cú sốc đó, người ta yêu cầu các ngân hàng này tăng thêm 9% số vốn tự có của mình. Đối với nhiều nhà kinh tế học, hậu quả sẽ là đẩy các ngân hàng đến chỗ phải cắt xén tín dụng để có được tỷ lệ tăng vốn đó. Tăng trưởng, vốn đã yếu, sẽ không chịu nổi tác động đó. Một điểm yếu khác của kế hoạch này liên quan đến Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF). Vì Đức và ECB phong tỏa việc ECB mua lại ồ ạt và không giới hạn các khoản vay của các nước nợ chồng chất, với lý do (cho dù có chính đáng hay không) là điều đó trái ngược với quy chế của ngân hàng Francfort, nên các nhà lãnh đạo phải vẽ ra một giải pháp khác là cơ chế bảo đảm đối với các nước nắm giữ trái phiếu công.
Còn sự can thiệp của Trung Quốc làm dấy lên vấn đề phụ thuộc vào Bắc Kinh. Mối nghi ngờ về tăng trưởng khiến thị trường e ngại. Các thị trường chứng khoán trồi lên rồi lại thụt xuống. Thị trường trái phiếu không bao giờ chấp nhận thỏa thuận Brúcxen như một yếu tố tích cực. Minh chứng hùng hồn nhất là tỷ lệ vay vốn của Nhà nước Italia vẫn cao hơn 6%.
Đồng thời, một tin vui kinh tế đến từ Mỹ: nền kinh tế nước này dường như được củng cố vững chắc hơn một chút. Suy thoái dường như đã bị đẩy lùi. Nhưng làm sao để chọn lựa giữa hai khuynh hướng, một xấu ở châu Âu và một tốt ở Mỹ? Tóm lại, tương lai không có gì sáng lạn, nhưng cũng không tồi tệ lắm. Song đường đi còn rất dài và một điều chắc chắn là tương lai vẫn còn không chắc chắn.
Giải pháp chính trị
Từ ba năm nay, khó khăn trong khu vực đồng euro bộc lộ ra và châu Âu lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng và đang đứng bên bờ vực suy thoái. Chia rẽ nội bộ gia tăng về việc làm ở các nước giàu và nạn thất nghiệp sâu rộng ở các nước nghèo. Dân chúng nổi dậy và quay sang ủng hộ phái mỵ dân. Các nhà lãnh đạo vẫn không tìm được giải pháp cứu trợ nào có sức thuyết phục. Các nhà đầu tư nước ngoài mất hy vọng. Kể cả những người lạc quan nhất cùng nản chí. Như nhận xét của nhà phân tích Eric Le Boucher trên tạp chí “Statafrik”, thương lượng hiệp ước ngân sách sẽ là không đủ, kể cả hiệp ước tăng trưởng cũng vậy.
Những người lạc quan cho rằng châu Âu đã làm được nhiều việc. Thực tế là vậy. Có ai nghĩ Đức sẽ chấp nhận tài trợ hai kế hoạch hỗ trợ cho Hy Lạp? Có ai nghĩ ECB sẽ mở hầu bao và tài trợ hậu hĩnh cho các ngân hàng? Có ai nghĩ 500 tỷ euro được tung ra để hỗ trợ cho các nước khác? Có ai nghĩ Pháp và Đức lại tái thương lượng hiệp ước tăng trưởng? Châu Âu đúng là đang lình xình, nhưng vẫn tiến bước.
Nhưng tình hình ngày càng lình xình hơn. Có thế thấy hiện nay trong khu vực đồng euro có hai nhóm nước với đặc điểm khác hẳn nhau. Các nước công nghiệp (và xuất khẩu), với đại diện là Đức (Hà Lan, Bỉ…), và các nước phi công nghiệp hóa (và nhập khẩu) đại diện là Pháp (Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp). Sự khác biệt giữa hai nhóm nước này ngày càng sâu sắc từ khi thành lập khu vực đồng euro. Các nước công nghiệp có cán cân thặng dư (từ 4% đến ó% Tổng sản phẩm quốc nội từ năm 2009) và các nước phi công nghiệp hóa có cán cân thâm hụt (khoảng 2-4%).
Giai đoạn lắng dịu kể từ khi ECB hồi tháng 12/2011 mở hầu bao giúp các ngân hàng, đã qua rồi. Khủng hoảng đang trở lại. Nguyên nhân kinh tế, như Mario Draghi thừa nhận, là chính sách tiền tệ không giải quyết được gì. Tín dụng thì có, nhưng không có doanh nghiệp để đề nghị cấp tín dụng. Nguyên nhân chính trị là chính sách khắc khổ dẫn đến bầu không khí ngột ngạt như trong những năm 1930.
Con bão khủng hoảng Hy Lạp và những lời bình luận về mối quan hệ Pháp-Mỹ có thể khiến người ta nhớ đến một câu nói bâng quơ trong hội nghị thượng đỉnh G20 tại Cannes (Pháp). Tổng thống Mỹ, Barack Obama, nói rằng “có quá nhiều thế chế ở châu Âu, Nghị viện, Ủy ban, Hội đồng… Merkel, Sarkozy, Barroso đã cho tôi một bài học về chính sách của châu Âu…”. Khi than phiền như vậy, ông Obama gần như không giấu vẻ rất nghiêm trọng khi nhấn mạnh đến một vấn đề được xem là nguyên nhân chính gây ra nhiều vấn đề khác. Đó là làm sao để kiểm soát cuộc khủng hoảng kinh tế khi không có ban lãnh đạo kinh tế và quá ít tính hợp pháp dân chủ như vậy.
Từ ba năm nay, khó khăn trong công cuộc xây dựng khu vực đồng euro bộc lộ ra. Rõ ràng là tình hình vẫn không thay đổi. Liên minh tiền tệ này đang bị đe dọa. Giải pháp chỉ có thể là chính trị để thúc đẩy nhanh và tạo điều kiện cho hội nhập và đoàn kết ngân sách trong toàn khu vực, hay ngược lại sẽ đẩy khu vực đến chỗ tan vỡ nhanh hơn. Châu Âu cũng như Mỹ đang đứng trước một thách thức lớn. Các nước này phải xem xét lại hình mẫu tăng trưởng cùa mình và xác định lại phương thức tài trợ. Cuộc khủng hoảng nợ là mặt trái của chiếc mề đay. Hình mẫu đó đã không còn sức sống.
Khi đối đầu với khủng hoảng, các nhà lãnh đạo châu Âu đã xóa bỏ nhiều điều cấm kỵ, nhưng không phải là tất cả. Vị trí nào cho Nhà nước-Dân tộc trong toàn cầu hóa đây? Vấn đề này luôn là mối đe dọa đối vói các nhà lãnh đạo Nhóm G20, được tất cả nghĩ đến, nhưng không được đưa vào bất kỳ thông cáo nào… Như vậy, đưa Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro không phải là giả thiết có thể xảy ra. Bởi lẽ châu Âu cần có một chính phủ chứ không cần sự lãnh đạo chung chung. Chế độ liên bang cần có thể chế mạnh hơn là quy định mà các Nhà nước có thể bất chấp.
Giờ đây, người ta biết ảo tưởng bám lấy quyết định được đưa ra tại Maastricht là như thế nào. Người ta biết giáo sư người Mỹ Robert Mundell đã có lý khi cảnh báo rằng chỉ có thể duy trì được thống nhất tiền tệ nếu thống nhất về chính trị. Không thể chặn đứng được cuộc khủng hoảng châu Âu bằng một hiệp ước thắt chặt ngân sách, một chính sách tiền tệ lỏng lẻo hay một hiệp ước tăng trưởng do Pháp và Đức thỏa hiệp soạn thảo ra. Cần phải đi đến thống nhất về mặt chính trị và nhanh chóng xác định lịch trình cho vấn đề này.
Tại sao? Bởi vì muốn làm điều cần làm – thiết lập tình đoàn kết giữa toàn bộ các Nhà nước thành viên-, phải xóa bỏ hẳn chủ quyền của các dân tộc và tiến trình này chỉ có thể thực hiện được nếu dân chủ được xây dựng ở cấp cao, tức liên minh. Chính phủ kinh tế châu Âu, một thể chế cần được xây dựng, sẽ chỉ có tính hợp pháp nếu nằm trong một nền dân chủ châu Âu được tôi luyện lại. Các thể thế không thích hợp hiện nay tỏ ra quá bất lực và bị phán đối quá nhiều.
Tổng thống Pháp, Francois Hollande, khi còn là ứng cử viên, từng nói là “không thể” buộc các nước khác chấp nhận hiệp ước mới trong tình hình hiện nay mà trước hết cần tái tạo “niềm tin vào châu Âu”. Kiểu lập luận đó, kiểu lập luận sai lầm đó, là sai lầm chết người: châu Âu kiểu Maastricht đang thất bại, chính phủ các nước không còn giải pháp thay thế nào khác là từ bỏ châu Âu đó hoặc đi tới. Hơn nữa, Đức đã hiểu ra vấn đề. Giữa nước này và Pháp không phải chỉ có một việc là tìm kiếm một hiệp ước tăng trưởng, mà cần có thêm một hiệp ước chính trị là hiệp ước duy nhất lúc này có thể cho phép giải quyết cuộc khủng hoảng về cơ bản và một cách dân chủ.
Tại sao? Bởi vì những điều cần phải làm như sau. Đức đã thành công trong việc buộc Pháp phải thực hiện chính sách ngân sách chặt chẽ. Đây là một bước ngoặt lịch sử nhưng vẫn chưa đủ. Đức còn cần phải thuyết phục Tổng thổng Francois Hollande quan tâm đến tình trạng kém cạnh tranh thảm bại của Pháp. Pháp, trái lại, đã thành công trong việc thúc đẩy Đức đến chỗ thảo luận về tăng trưởng. Đây là một nhượng bộ cần biết, nhưng cũng là chưa đủ. Lúc này cũng cần nói đến tư tưởng con buôn của Đức, đến chi phí của nước này đối với các nước thành viên khác và những gian lận của Đức (như công nhân Ba Lan ở Đức được trả lương như ở Ba Lan trong ngành công nghiệp thực phẩm). Mục tiêu tổng thể là tìm kiếm một chiến lược hoàn toàn mới để quy tụ các nền kinh tể hướng đến một cái đích chung.
Lúc này, một số biện pháp ban đầu đã bắt đầu được thực hiện. Tin tức tốt lành là tiền lương ở Đức tăng và ngân hàng trung ương nước này chấp nhận lạm phát ở Pháp cao hơn mức trung bình (3% thay cho 2%). Đó là con đường đúng cần đi để lấy lại tính cạnh tranh. Nhưng vẫn phải nghĩ cách thực hiện các bước tiếp theo. Việc châu Âu tái khởi động bằng đầu tư như Pháp mong muốn, chỉ là một phần (với hệ quả như thế nào thì chưa biết) và cũng có rủi ro. Cũng cần xem xét lại chính sách thắt lưng buộc bụng của Đức để biết được liều lượng nào cho ngắn hạn, liều lượng nào cho trung hạn, do tình hình ở nước này hay nước khác không giống nhau. Nếu cần phải cùng nhau gánh món nợ thì phải làm như thế nào? Phát hành loại trái phiếu châu Âu nào? Đặc biệt, cần xác định công cụ nào để kích thích tái công nghiệp hóa các nước Nam Âu? Tất cả các vấn đề đó vẫn chưa có câu trả lời đáng tin cậy. Cần phải tìm ra, trình bày và để các nước thông qua các câu trả lời đó.
Từ năm 2008 đến năm 2011, tình hình khủng hoảng đã cho thấy tầm quan trọng của tiến trình lãnh đạo trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng có hệ thống. Nếu không có ban lãnh đạo chính trị, không có hiệu quả cũng như không có tính phản xạ, sẽ không thể đưa ra được một câu trả lời tham vọng và đáng tin cậy. Năm 2008, những người đứng đầu Nhà nước và chính phủ muốn đáp trả khủng hoảng bằng cách tái tạo ra G20, một hình thái lạ lùng của cái có thể được gọi là “hội đồng an ninh kinh tế”. Trong khi Nhóm G20 thường bị các nước không phải là thành viên tấn công dưới góc độ tính hợp pháp, lời phê phán lần này lại xuất phát từ chính G20 và liên quan đến tính hiệu quả. Làm sao giải quyết có hiệu quả cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro khi phải được 17 nước thành viên đồng ý, trong khuôn khổ thảo luận giữa 27 nước, trong đó phối hợp dựa trực tiếp hay gián tiếp vào hai nước có quyền lớn nhất? Tổng thống Barack Obama quả thực có lý để đặt ra câu hỏi đó.
Hiện nay ngoài Nghị viện châu Âu, chỉ có các đảng cực tả và cực hữu mới công khai đặt vấn đề Nhà nước-Dân tộc liệu có phải là chủ thể chính trị cho phép hoạch định chính sách công có hiệu quả trong thời kỳ toàn câu hóa hay không. Các phái này đề xuất cách tiếp cận thiên về chủ quyền và chủ trương tăng cường vai trò của Nhà nước-Dân tộc. Phái trung dung giữa hai cực đưa ra ý tưởng chế độ liên bang. Các đảng nắm đa số dường như đã chôn vùi vấn đề mà họ cho là không được lòng dân hay không thể xử lý nổi. Lý do là sự cách biệt mới nảy sinh đó có thể sẽ làm thay đổi hoàn toàn các chính đảng.
Vào lúc Ủy ban châu Âu chuẩn bị xem xét lại về cơ bàn các hiệp ước châu Âu theo hướng lãnh đạo kinh tế tập trung hơn, cần thúc đẩy cuộc tranh luận theo hướng sâu rộng hơn và không theo lối mòn châu Âu-Brúcxen. Vấn đề ở đây là làm sao để thế giới và các nước thành viên thấy được châu Âu cần phải làm theo cách nào. Tóm lại, đó là làm sao để châu Âu hiểu rõ vấn đề hơn trên cơ sở tính hợp pháp và tính hiệu quả. Châu Âu không thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng đồng euro nếu không có một chính phủ chung, trước hết là đơn giản hóa các thể chế chính trị và tăng cường tính hợp pháp của chúng.
Liên minh tài chính
Cả cựu Tổng thống Pháp, Nicolas Sarkozy, lẫn Thủ tướng Đức, Angela Merkel đều ủng hộ hợp tác sâu rộng hơn nữa về tài chính giữa các nước châu Âu với nhau. Tuy nhiên, cả hai đều gặp khó khăn trong việc thống nhất phương cách để thực hiện thỏa thuận này. Pháp và Đức có thể đạt được thỏa hiệp gì để xây dựng liên minh tài chính giữa các nước thành viên? Lý giải trên tạp chí “Đại Tây Dương”, ông Jean-Luc Sauron, viên chức cao cấp và thành viên ban biên tập tạp chí “Vấn đề quốc tế”, cho rằng khó có thế xác định được khái niệm và hình hài của một liên minh tài chính vì cả Pháp và Đức, hai nước đề xuất chính, đều đưa ra ít thông tin về vấn đề này. Trong bối cảnh đó, ông đưa ra một số giả thiết có liên quan.
Trước hết, đề xuất thành lập liên minh tài chính liên quan đến việc quy tụ tập trung hơn các chính sách ngân sách quốc gia của các nước thành viên khu vực đồng euro, nhằm hướng mọi sự chú ý vào một lĩnh vực thuộc thẩm quyền của các Nhà nước nói trên. Đề xuất đó cũng cho thấy không ai đặt lại vấn đề về hiệp ước Maastricht: chính sách tiền tệ của các nước thuộc khu vực đồng euro không thuộc thẩm quyền của họ mà của ECB. Để cải thiện kết quả kinh tế, các nước này không thể quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá hối đoái đồng euro nhằm tăng tính cạnh tranh của mình trên trường quốc tế, cũng không quyết định được việc ECB can thiệp đế giảm số nợ của mình. Hai công cụ chính trị mà họ có trong tay để giảm nợ và tăng tính cạnh tranh, chỉ là chính sách kinh tế và chính sách tài chính.
Chính sách kinh tế không phải lúc nào cũng áp dụng được ngay. Ai có thể có đủ tính hợp pháp để quyết định việc phân chia hoạt động trên vùng lạnh thổ thuộc khu vực đồng euro hay sự phát triển hài hòa các ngành công nghiẹp và chiến lược thương mại quốc gia. Các nước thành viên đã rất thận trọng khi chỉ để hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu giới hạn ở mức độ phối hợp một “thuật ngữ gần như không có tính bắt buộc. Thuật ngữ đó phù hợp với cơ cấu kinh tế của Liên minh châu Âu, nhìn chung là tự do và trong đó không còn Nhà nước thích can thiệp về mặt kinh tế.
Còn chính sách tài chính là đòn bẩy kinh tế duy nhất mà các nước thành viên khu vực đồng euro có trong tay. Quy tụ chính sách tài chính của các quốc gia thành viên vào một mối phải đáp ứng được hai mối quan tâm nói trên. Đối với các nước không nỗ lực tái tạo tính cạnh tranh kinh tế của mình tránh được điều kiện vay vốn bằng đồng euro, chính sách đó buộc họ phải tiến hành cải tổ cơ cấu bộ máy sản xuất. Qua đó, các nước này phải thực hiện mục tiêụ thứ hai là giảm nợ bằng cách chấm dứt nhận đồng tiền dễ dãi dưới “chiếc ô” tính cạnh tranh được thể hiện về mặt tiền tệ bằng việc duy trì giá trị đồng euro. Tóm lại, đó là tối ưu hóa hoạt động trong vùng kinh tế của 17 nước thành viên khu vực đồng euro, bằng cách hài hòa phương thức phân chia tài nguyên, trong đó ưu tiên cho khu vực sản xuất tư nhân.
Trái lại, các đòn bẩy thuộc chính sách tài chính (giảm chi tiêu và/hay tăng số thu) lại không nằm trong thẩm quyền của các Nhà nước thành viên. Đó là tâm điểm của thỏa thuận đang định hình về “Liên minh tài chính châu Âu” nhằm hướng mọi quyết định tài chính của quốc gia về cùng một mục tiêu: đó là giảm nợ công và tạo cân bằng ngân sách, qua đó thể hiện tính trung lập của hoạt động Nhà nước đối với hoạt động kinh tế.
Theo ông Jean-Luc Sauron, đồng thời là Phó Chủ tịch Phong trào châu Âu-Pháp, có một sự trùng lặp tương đối trong lập trường của Pháp và Đức về nghĩa vụ cần phải có: mặc nhiên trừng phạt các nước vi phạm quy định trong hiệp ước ổn định và tăng trưởng, đưa vào hiến pháp của các nước này một quy định liên quan đến mục tiêu cân bằng ngân sách (“quy định vàng”). Nhưng mọi vấn đề tiếp theo đó còn bỏ ngỏ.
Nicolas Sarkozy và Angela Merkel đồng ý với nhau về cơ bản, song không thống nhất với nhau về phương tiện thực hiện. Đối với Thủ tướng Đức, cần cho Tòa án công lý Liên minh châu Âu (CJEU), có khả năng kết án các Nhà nước sai phạm trong việc tôn trọng nghĩa vụ ngân sách kể trên. Tại sao lại cho Tòa án công lý quyền lực đó, quyền được xét xử chính sách tài chính do Quốc hội các nước thông qua? Dường như vấn đề nằm ở lòng tin được đặt vào một thể chế “phi chính trị” khác là ECB. Đằng sau chiến lược đó là tâm lý nghi ngại đối với năng lực của các cơ quan chính trị (chính phủ và Quốc hội của các nước) trong việc vận động cử tri trong nước chấp nhận thắt lưng buộc bụng về ngân sách và chấm dứt món “ma túy” nợ nần. Đó cũng chính là lý do thúc đẩy Đức muốn trao cho một “siêu ủy viên” châu Âu quyền lực để sửa đổi ngân sách của các quốc gia vượt quá giới hạn quy định.
Trái lại, Nicolas Sarkozy muốn chính trị gia của các nước được rảnh tay để làm cho dân chúng chấp nhận những đảo lộn như vậy trong lịch sử dân chủ của mình. Dự án của Pháp dường như gần gũi với một “Hiệp ước Schengen về khu vực đồng euro” hơn. Trong khuôn khổ đó, các thẩm phán tại Lúcxămbua hay các ủy viên châu Âu sẽ không có thêm quyền, mà quyền sẽ được trao cho một “chính phủ tài chính châu Âu” (hay liên minh tài chính châu Âu) bao gồm đại diện một số Nhà nước có liên quan, quyền được khiển trách và điều chỉnh các ngân sách quốc gia không tuân thủ quy định và giới hạn đã được chính phủ của chính các nước đó quyết định. Chính phủ tài chính châu Âu đó có thể sẽ được điều hành bởi Eurogroup (Hội đồng các bộ trưởng Kinh tế và Tài chính khu vực đồng euro) dưới sự kiểm soát của Hội đồng châu Âu gồm những người đứng đầu Nhà nước và chính phủ khu vực đồng euro.
Như vậy, trong trường hợp này hay trường hợp khác, ông Jean-Luc Sauron, giáo sư giảng dạy môn luật châu Âu và quan hệ đối ngoại Liên minh châu Âu tại trường Đại học Pari-Delphine, cho rằng khu vực đồng euro ít nhiều được tự chủ trong hoạt động so với hoạt động của các nước không phải thành viên khu vực này. Nhưng dường như không thể đưa được hệ thống đó vào hoạt động – một cách dễ dàng như vậy- thông qua việc sửa đổi các hiệp ước của Liên minh châu Âu, cụ thể là do Anh không muốn khu vực đồng euro có tính hội nhập cao hơn. Chỉ còn con đường công ước đa phương giữa các nước có liên quan -có thể trao thêm quyền cho Ủy ban châu Âu đối với các nước ký công ước này, mới cho phép nhanh chóng đưa vào thực hiện một công ước như vậy. Đối với đồng euro, đó là một chiến lược sử dụng lại những gì đã được tiến hành để người dân tự do đi lại trong khuôn khổ Hiệp ước Schengen, vừa ở trong liên minh, vừa ở bên cạnh các cơ chế cộng đồng được tất cả các nước thành viên Liên minh châu Âu chia sẻ.
Sửa đổi Hiệp ước châu Âu
Khi còn đương chức, cựu Tổng thống Pháp, Nicolas Sarkozy, muốn Pháp cùng với Đức sửa đổi các hiệp ước châu Âu và đã đưa ra một số đề xuất tại Hội nghị thượng đỉnh Strasbourg vào cuối năm 2011. Theo đánh giá của ông Jean-Luc Sauron, viên chức cao cấp, chuyên nghiên cứu các vấn đề châu Âu và cộng đồng, sửa đổi nội dung các hiệp ước châu Âu là một vấn đề mới và cần thiểt để quy tụ các chính sách kinh tế của liên minh vào một mối và đi theo một hướng thống nhất.
Trả lời câu hỏi tại sao Pháp muốn cùng Đức thay đổi nội dung hiệp ước, ôns Jean-Luc SauKon, đồng thời là Phó Chủ tịch Phong trào châu Âu- Pháp, giải thích trên tạp chí “Đại Tây Dương” là do hai nước không thể áp đặt được các biện pháp bó buộc được Thủ tướng Đức, Angela Merkel, đưa ra trong khuôn khổ Hiệp ước Lisbon hiện tại. Thủ tướng Đức muốn nước nào không tôn trọng nghĩa vụ được ghi trong hiệp ước ổn định và tăng trưởng, sẽ mặc nhiên bị trừng phạt, cụ thể là khả năng đưa các nước này ra trước CJEU. Một lý do khác là Pháp và Đức muốn lập một chức danh ủy viên châu Âu mới chịu trách nhiệm vấn đề ổn định và có thể có quyền can thiệp trực tiếp vào việc hoạch định ngân sách quốc gia của các nước thành viên. Trong bối cảnh luật pháp hiện nay trong Liên minh châu Âu, điều đó, theo ông Jean-Luc Sauron, là không thể thực hiện được.
Chẳng hạn các nước không tôn trọng điều kiện trong hiệp ước ổn định và tăng trưởng không thể bị truy tố trước CJEU. Pháp muốn hợp tác với Đức về vấn đề trừng phạt, nhưng không có gì bảo đảm Đức sẽ xem xét lại lập trường của mình về việc ECB sẽ can thiệp mạnh hơn. Một câu hỏi được đặt ra: sửa đổi nội dung Hiệp ước Lisbon mà chỉ tính tới ý muốn của Đức, sẽ dẫn đến rủi ro gì?
Ông Jean-Luc Sauron, hiện là thành viên ban biên tập tạp chí “Vấn đề quốc tế”, cho đó là cái được mất đối với cuộc tranh luận giữa Pháp và Đức. Hiện nay, nói rằng hai nước có lập trường chung là quá sớm vì quan điểm của chính phủ hai nước còn cách xa nhau.
Về phía Pháp, dĩ nhiên là khả năng sửa đổi Điều khoản 125 trong Hiệp ước Lisbon, điều khoản quy định Liên minh châu Âu không được phép hỗ trợ tài chính đối với một nước thành viên khu vực đồng euro, nghĩa là cho phép ECB can thiệp với tư cách là bên cho vay cuối cùng và, từ đó, có thể mua lại nợ công của các nước thuộc liên minh tiền tệ này. Nhưng hiện nay, do Đức không đồng ý nên nguy cơ dễ xảy ra là hiệp ước chỉ chứa đựng khía cạnh trừng phạt (đối với các nước vi phạm) mà không có chiếc “van xả áp” mở rộng khả năng can thiệp của ECB như Pháp đề xuất.
Nói cách khác, sẽ là hữu ích nếu thực hiện hạn chế chi tiêu công và tuân thủ kỷ luật ngân sách, nhưng cũng cần nới lỏng gọng kìm của thị trường đối với các nước thành viên. Từ đó mới có ý tưởng xác định lại vai trò của ECB như bên cho vay cuối cùng, hay khả năng mua lại ồ ạt nợ công trên thị trường thứ yếu (thị trường liên quan đến trái phiếu được chính quyền các nước phát hành và được các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hay quỹ hỗ trợ mua và bán) như các nước mong muốn.
Như vậy, Pháp đóng vai trò trụ cột giữa các nước Nam Âu đang trong cơn tuyệt vọng (Hy Lạp, Italia, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) và các nước Bắc Âu dễ thuận theo lôgích nghiêm khắc về tài chính. Tệ hơn nữa là các nước Bắc Âu phê phán rất mạnh các nước Nam Âu và – gần như là – sẵn sàng buông chèo. Với vai trò đó, Pháp bảo đảm cho khu vực đồng euro có được một sự gắn kết và đoàn kết. Cho đến nay, Pháp đã thành công trong việc thuyết phục các nước Bắc Âu về sự cần thiết phải duy trì sự gắn kết trong khu vực đồng euro. Đối với các nước Nam Âu, Pháp ủng hộ tính cốt yếu của các cuộc cải cách và dự án tái cấu trúc tài chính.
Có hai nguy cơ lớn đối với thỏa thuận này: nếu đề xuất của Đức được chấp nhận mà đề nghị của Pháp không được chấp nhận, đó sẽ là bằng chứng cho thấy trục Pháp-Đức trên thực tế chỉ là trục Đức-Đức… Không ai muốn thấy lập trường của Đức chế ngự trong nội dung hiệp định, kể cả người Đức. Mối nguy khác là thái độ rất không chắc chắn của Anh. Nước này quả thực dự tính buộc phải tổ chức trưng cầu dân ý nếu các hiệp ước châu Âu được sửa đổi theo hướng tăng cường quyền lực cho Liên minh châu Âu. Những gì mà cặp Pháp-Đức đã và đang làm lúc đó sẽ bị chết yểu vì một cuộc trưng cầu dân ý cúa Anh rất có thể sẽ dẫn tới việc phản đối chủ quyền quốc gia bị mất.
Nếu Hiệp ước Lisbon được sửa đổi thực sự có thể có hiệu quả đến chừng mực nào? Ông Jean-Luc Sauron, đồng thời là giáo sư giảng dạy môn luật châu Âu và quan hệ đối ngoại Liên minh châu Âu tại trường Đại học Pari- Delphine, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải cân bằng cả hai vế trong cùng một cuộc cải cách do Pháp và Đức đề xuất. Đó là trừng phạt và kỷ luật theo quan điểm của Đức và biên độ co giãn trong tăng trưởng theo lập trường của Pháp. Mức nợ cao của các hộ gia đình và nguy cơ suy thoái của khu vực đồng euro trong năm 2012 khiến các công ty xếp hạng tín dụng lo ngại. Standard & Poor’s trước đó đánh giá tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội của Pháp trong năm nay chỉ đạt khoảng 0,3% so với mức 0,8% dự báo trước đó. Công ty này dự báo mức tăng trưởng vào khoảng 0,8-1% đối với Đức và 0,1% đối với Italia.
Nếu có ít áp lực hơn đối với các món nợ công, có thể châu Âu sẽ soạn thảo các kế hoạch không chỉ mang tính trừng phạt, mà cũng tạo điều kiện thuận lợi để lấy lại tăng trưởng trong khu vực đồng euro. Muốn vậy cần phải đầu tư… vì chỉ gọt dũa ngân sách công là không đủ. Cuối cùng, đề nghị của cặp Pháp-Đức liên quan đến việc sửa đổi các hiệp ước cần phải được nhanh chóng đưa vào thực hiện vì các vấn đề cơ bản liên quan đến một vấn đề nóng bỏng: đó là tương lai của khu vực đồng euro.
Pháp và Đức liệu có khả năng thuyết phục các nước thành viên khác về sự cần thiết phải trừng phạt các nước vi phạm quy định trong hiệp ước ổn định và tăng trưởng, trong khi chính hai nước này là những nước đầu tiên vượt quá quy định của cộng đồng hay không? Dĩ nhiên, các hiệp định châu Âu chỉ có thể hoạt động được nếu tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ quy định…, kể cả Pháp và Đức nếu các nước này cũng vi phạm. Không phải vì trong quá khứ từng vi phạm quy định trong hiệp ước mà hai nước này có ít trách nhiệm hơn đối với các nước thành viên khác.
Cựu Thủ tướng Pháp, Francois Fillon, đánh giá đề xuất của Pháp và Đức là lời kêu gọi thiết lập vài trò lãnh đạo chính trị và kinh tế vững chắc hơn và cơ sở cho vấn đề này là thỏa thuận Pháp-Đức. Việc soạn thảo một hiệp ước mới là câu trả lời tốt nhất cho tình hình hiện nay. Ông cho rằng châu Âu không nên để các nhà đầu tư phải nghi ngại, dù là nhỏ nhất, về quyết tâm bảo vệ khu vực đồng euro của các nước thành viên.
Về độ tin cậy của cặp Pháp-Đức, muốn duy trì được phải có sự đồng thuận cân bằng giữa hai nước, nếu không châu Âu lại một lần nữa phải đối mặt với việc các cuộc cải cách được đề xuất sẽ bị phong tỏa phản tác dụng và không bao giờ được đưa vào thực hiện. Trong khuôn khổ phi liên bang, nhưng là liên Nhà nước, hoạt động thông qua hiệp ước là điều cần thiết…
Khi còn là ứng cử viên tổng thống, ông Francois Hollande cho rằng tăng trưởng trong khu vực đồng euro là chưa đủ để đạt mục tiêu giảm thâm hụt công trong năm 2012, và hệ thống ngân hàng của châu Âu dễ đổ vỡ và có thể sẽ phải tái sắp xếp vốn. Theo ông, tình hình trên là bằng chứng cho thấy chính sách của Liên minh châu Âu thất bại từ 5 năm nay. Hơn nữa, ông cho rằng việc Pháp và Đức chủ trương sửa đổi hiệp ước là không đủ.
Giáo sư Jean-Luc Sauron cho rằng lý tưởng nhất là Đức và Pháp sẽ hiểu nhau và thành công trong việc tạo ra một tính năng động mới cho khu vực đồng euro nói riêng, cho Liên minh châu Âu nói chung.
Có nên kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ?
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, Abdullah Gui, có lần nói trên tờ “Sunday Telegraph” của Anh rằng nước ông muốn trở thành một “động lực tăng trưởng” của châu Âu. Với thế mạnh về dân số và tăng trưởng, Thổ Nhĩ Kỳ tung ra con bài năng động kinh tế của mình để thu hút sự chú ý của các nước châu Âu trong bối cảnh khu vực đồng euro đang trong cơn khủng hoảng. Theo nhà kinh tế học Ahmet Insel, giảng dạy tại Pháp và trường Đại học Galatasaray, xã hội Thổ Nhĩ Kỳ còn trẻ và lạc quan, nên có thể đóng một vai trò ở châu Âu, đặc biệt để cứu tăng trưởng của châu lục này. Ông Ahmet Insel, đồng thời là nhà chính trị học Thổ Nhĩ Kỳ, lý giải có nên để Thổ Nhĩ Kỳ trở thành thành viên Liên minh châu Âu không, khi trả lời phỏng vấn tạp chí “Đại Tây Dương” dưới đây.
Hỏi: Trong một lần trả lời phỏng vấn, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, Abdullah Gul, cho rằng Ancara có thể trở thành “động lực tăng trưởng” của Liên minh châu Âu. Đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào Liên minh châu Âu liệu có thể cứu được tăng trưởng của châu lục không?
Ahmet Irrsel: Khó có thể đưa ra một dự báo như vậy vì tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ gắn rất chặt với tăng trưởng của châu Âu. Một phần lớn xuất khẩu của nước này trên thực tế được đưa sang châu Âu, và cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay chắc chắn sẽ làm tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ chậm lại. Mức tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ giảm từ 8% vào năm 2011 xuống còn 5% trong năm nay. Như vậy, không nên đánh giá thấp tác động của cuộc khủng hoảng châu Âu đối với nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ.
Xuất khẩu giảm sẽ có nguy cơ khiến tăng trưởng giảm sút theo. Thế nhưng, chính lĩnh vực này lại tạo ra các nguồn thu nhập chính và cho phép có được tăng trưởng cao. Hơn nữa, do thiếu nguồn tiền tiết kiệm ở trong nước nên Thổ Nhĩ Kỳ cần được bổ sung thường xuyên bằng vốn của nước ngoài. Trong thời kỳ rối loạn tài chính quốc tế, trong đó các nhà đầu tư sẽ tìm cách lựa chọn những nơi nào chắc chắn và ổn định hơn để rót tiền cho dù lời có thấp hơn, Thổ Nhĩ Kỳ có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề.
Trái lại, tuyên bố của Tổng thống Abdullah Gul có thể được phân tích dưới một góc độ khác. Châu Âu tỏ ra rất nhạy cảm với tiêu thụ, tương lai… Nhưng Thổ Nhĩ Kỳ không như vậy. Hơn nữa, khi so sánh dư luận ở châu Âu vói ở Thổ Nhĩ Kỳ, điều có vẻ hiển nhiên là dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ tỏ ra lạc quan vô bờ về tương lai của họ, trái ngược với những gì diễn ra ở châu Âu. Và chính tinh thần lạc quan về tương lai đó sẽ gây ra hậu quả đối với hành vi kinh tế, nói theo thuật ngữ đầu tư và tiêu thụ.
Xã hội Thổ Nhĩ Kỳ đúng ra là trẻ, lạc quan, thiên về tiêu thụ, sản xuất và hướng về đầu tư. Như vậy, Thổ Nhĩ Kỳ có thể có vai trò ở châu Âu. Đó không phải là vai trò của một nước sẵn sàng hỗ trợ tăng trưởng của châu Âu, mà là của một nước có khả năng tái khởi động tiêu thụ và đầu tư ở châu lục này. Với dân số 85 triệu người, từ nay đến năm 2025, Thổ Nhĩ Kỳ có thể tác động được vào nền kinh tế châu Âu và có thể là một bình khí oxy thực sự. Nghịch lý ở đây là dân số đông cũng chính là điều chủ yếu mà người ta muốn phê phán Thổ Nhĩ Kỳ: một sức nặng về dân số sẽ dẫn đến việc phân chia lại quân bài bầu cử theo phương thức bỏ phiếu cân bằng trong 27 nước thành viên Liên minh châu Âu.
Hỏi: Có thể nói cán cân lực lượng đã đáo ngược giữa châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2001, không?
Ahmet Insel: Có sự thay đổi hoàn toàn về cán cân lực lượng và hình ảnh của Thổ Nhĩ Kỳ so với châu Âu. Vào đầu những năm 2000, Thổ Nhĩ Kỳ được mô tả như một nước có khả năng sẽ được cứu vớt nếu gia nhập Liên minh châu Âu. Bây giờ, vai trò trên thực tế đã đảo ngược. Đúng là không nên phóng đại, nhưng phải nói rằng tình hình kinh tế và sự ổn định của Thổ Nhĩ Kỳ đã được cải thiện đáng kể. Tuy vẫn còn một số vấn đề kinh tế, song Thổ Nhĩ Kỳ của năm 2011 không còn là Thổ Nhĩ Kỳ của năm 2001 nữa, còn châu Âu ngày nay yếu hơn so với trước đây. Tư nay sẽ xuất hiện sự quy tụ hướng về Thổ Nhĩ Kỳ mà không có lợi cho Liên minh châu Âu.
Hỏi: Nếu trở thành thành viên Liên minh châu Âu, liệu Thổ Nhĩ Kỳ có hội nhập kinh tế sâu rộng hơn hiện nay không?
Ahmet Insel: Tôi không tin là như vậy. Hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ gắn bó với châu Âu thông qua hiệp định với Liên minh thuế quan. Rất ít người Thổ Nhĩ Kỳ muốn nước họ gia nhập khu vực đồng euro mặc dù họ muốn nước họ trở thành thành viên Liên minh châu Âu. Hơn nữa, nếu Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu cũng sẽ không dẫn đến những thay đổi chính trị cơ bản so với tình hình hiện nay.
Vì tất cả những lý do trên, đề xuất của cựu Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, theo hướng hợp tác ưu đãi giữa Liên minh châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ không có ý nghĩa gì.
Hỏi: Trong điều kiện đó, quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu sẽ ra sao?
Ahmed Insel: Tương lai của Thổ Nhĩ Kỳ trong Liên minh châu Âu hiện nay bị phong tỏa bởi một số chương trong quy định về hội nhập châu Âu.
Trước hết, khoảng 10 chương bị phong tỏa do Thổ Nhĩ Kỳ vẫn không muốn tuyên bố công nhận Cộng hòa Síp. Do đó, sẽ không thể có được tiến triển nào… Thế nhưng, vì có thể xem liệu Thổ Nhĩ Kỳ có đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn để gia nhập Liên minh châu Âu hay không nên cần phải có các chương mở. Chừng nào xung đột còn diễn ra giữa hai vùng của Síp thuộc Hy Lạp và thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu sẽ không bao giờ được đặt ra.
Tiếp đó, Pháp đơn phương phong tỏa 5 chương khác hoàn toàn độc lập với vấn đề Síp, nhưng có liên quan đến vấn đề hội nhập, cụ thể về vấn đề Liên minh Tiền tệ. Chừng nào Nicolas Sarkozy còn cầm quyền, Pháp còn phong tỏa 5 chuơng đó. Nếu Nicolas Sarkozy không còn nắm quyền nữa, Pháp sẽ tự do giữ hay xóa bỏ lập trường đó.
Cuối cùng, nếu châu Âu quyết định không tiếp tục theo đuổi tiến trình Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu, tôi nghĩ rằng Thổ Nhĩ Kỳ cũng sẽ không tiếp tục thỏa thuận với Liên minh thuế quan. Trên thực tế, khó có thể tiếp tục hợp tác với Liên minh thuế quan nếu không có viễn cảnh gia nhập tổ chúc này, vì sẽ là tế nhị đối với Thổ Nhĩ Kỳ khi phải gánh chịu hậu quả của các quyết định mà nước này không tham gia. Như vậy, Thổ Nhĩ Ky có thể sẽ thường xuyên phản đối Liên minh thuế quan, còn châu Âu sẽ có thể phải nhắm mắt để duy trì nguyên trạng.
Gắn kết và dân chủ
Chính sách gắn kết của châu Âu từ 25 năm nay có vai trò như thế nào? Trong tương lai sẽ ra sao? Theo ông Raphael Goulet, người từng đảm nhận nhiều vị trí lãnh đạo trong Ủy ban châu Âu, chính sách này đã cho ra đời hàng nghìn dụ án sản xuất và đầu tư cụ thể ở khắp nơi trên lãnh thổ châu Âu nhưng vẫn không được biết đến nhiều, chẳng hạn như ở Pháp, trong khi chính sách này hiện ngốn tới 1/3 tổng ngân sách của châu Âu.
Phân tích trên tạp chí “Địa chính trị”, ông Raphael Goulet, hiện phụ trách truyền thông và quan hệ quốc tế Tổng vụ chính sách khu vực thuộc Ủy ban châu Âu, cho rằng phải nắm được mục tiêu chính trị cũng như những nguyên tắc tạo nên chính sách gắn kết của châu Âu mới hiểu được chính sách này.
Trong những năm gần đây, chính sách đoàn kết của Liên minh châu Âu đã tiến triển để trở thành chính sách đầu tư tối cần thiết cho các mục tiêu và hoạt động của tổ chức vùng này. Nhưng chỉ có thể hiểu được chính sách đó nếu đặt sự tiến triển của nó trong viễn cảnh tiến trình hội nhập kinh tế châu Âu. Điều này là đặc biệt hữu ích trong lúc các cuộc thương lượng đã được khởi động liên quan đến chính sách đoàn kết tương lai cho thời kỳ 2014-2020 trong bối cảnh cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro.
Dưới thời Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jacques Delors, thế chế này khẳng định đoàn kết và gắn kết thông qua ngân sách nhiều năm về phương diện tài chính, việc này thể hiện trước hết trong vai trò hỗ trợ thị trường chung để mỗi vùng có thể tận dụng việc mở cửa biên giới, tiếp đó là hỗ trợ liên minh kinh tế và tiền tệ, và cuối cùng là hỗ trợ tiến trình mở rộng sang các nước Đông và Trung Âu. Chính sách đoàn kết đóng vai trò quan trọng đối với sự thành bại của tiến trình mở rộng, từ đó làm tăng đáng kể những khác biệt về kinh tế – xã hội ngay trong Liên minh châu Âu.
Chính sách đoàn kết của châu Âu tiến triển trong các thời kỳ kế hoạch hóa khác nhau (1989-1993, 1994-1999, 2000-2006, 2007-2013) thông qua đóng góp đáng kể nhất vào việc thực hiện các mục tiêu của châu lục. Đó là hệ thống chỉ dẫn đầu tư hỗ trợ chiến lược Lisbon trong thời kỳ hiện nay hay tạo điều kiện để quản lý các dự án xuyên quốc gia bằng công cụ mới được gọi là Nhóm họp tác lãnh thổ châu Âu.
Điều lạ lùng là người ta không muốn thấy châu Âu như hiện tại, giai đoạn đầu trước khi đưa ra các phương thuốc mà châu lục cần. Một số người vẫn còn lo sợ trước mối đe dọa của chế độ liên bang theo kiểu cũ, một công thức không còn phù hợp với thực trạng tiến trình xây dựng châu Âu hiện nay. Họ chủ trương áp dụng phương pháp liên chính phủ vốn là nguyên nhân gây ra vô vàn những zích zắc mà không có thể thức phân định. Đây cũng là một phương thuốc không còn hữu hiệu nữa. Một số khác than phiền về chiếc vực ngày càng sâu giữa người dân với giới tinh hoa chính trị ở nước họ. Đó thực sự là một chiếc vực do giới tinh hoa chính trị, ở cấp độ quốc gia cũng như ở quy mô châu Âu, mù quáng hay nói dối dân chúng về việc họ bất lực khi xử lý tình hình hiện nay. Sự bất lực đó là tương đối ở quy mô châu Âu, nhưng là hoàn toàn ở cấp độ quốc gia.
Dân chúng ở tất cả các nước nhìn thấy điều đó hàng ngày, chứ không riêng ở Hy Lạp, Ai-len và Bồ Đào Nha. Liên quan đến việc chế ngự toàn cầu hóa trong tương lai, khi đã không kiểm soát được tiến trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng từ những năm 1960 đến nay, ai có thể nghĩ rằng các chính phủ quốc gia hiện nay và Liên minh châu Âu có năng lực để làm điều đó?
Dĩ nhiên, châu Âu cần nghĩ đến việc thay đổi cách làm, điều chỉnh tham vọng, sửa đổi chiến lược bởi lẽ Liên minh châu Âu hiện nay khiến dân chúng không được bảo vệ cũng không có tương lai khi phải đối mặt với toàn cầu hóa đang tiến triển nhanh chóng. Một số người vì lo sợ nên mơ đến “phi toàn cầu hóa”. Theo ông Raphael Goulet, tốt nhất là nhìn thẳng vào sự thật, xem xét lại các phương thuốc mà thực tiễn cho phép và quyết tâm áp dụng chúng.
Hiện nay, châu Âu nằm dưới sự lãnh đạo của một hội đồng gồm các nhà lãnh đạo chính trị quốc gia, được bầu lên để bảo vệ lợi ích của nước họ chứ không để đảm nhận lợi ích của liên minh, cũng như trước đây Liên minh châu Âu được điều hành bởi một giới kỹ trị cộng đồng. Đó là hai phương pháp đã lỗi thời và sẽ không bao giờ có tác dụng nữa. Người dân châu Âu từ nay muôn có các nhà lãnh đạo có trách nhiệm và tự mình lựa chọn, nếu không chiếc vực ngăn cách sẽ ngày càng sâu hon. Hơn nữa, người ta không điều hành một liên minh chính trị như một liên minh tiền tệ, mà cần có sự hỗ trợ của nhân dân các nước.
Nói một cách tổng quát, Liên minh châu Âu phải được cải tổ, với một nghị viện chọn ra một chính phủ chịu trách nhiệm trước liên minh này. Một bản Hiến pháp với 20 điều khoản – trong đó các nguyên tắc là dễ hiểu đối với mọi công dân, trái ngược với dự án đã bị bác bỏ – là đủ để cho phép thiết lập một cơ cấu chính trị mới.
Liên minh châu Âu cần phải có năng lực và sức mạnh đối với tất cả những gì là chung của mọi người dân châu lục. Đó là chính sách kinh tế và tài chính, chính sách đối ngoại và quốc phòng, sinh thái, qua lại giữa các nước thành viên, nghiên cứu, phát triển và truyền bá di sản văn hóa. Liên minh châu Âu không được có chức năng can thiệp vào đời sống của các quốc gia và vùng.
Cải cách hoạt động thể chể như vậy cần xác định lại mối quan hệ giữa Liên minh châu Âu, khu vực đồng euro, các Nhà nước và vùng, vì đó là một châu Âu phi tập trung hóa rất mạnh và có khả năng kiểm soát nhiều hơn đối với tất cả những gì liên quan đến mọi công dân châu Âu. Chính “đại khu vực”, tương đương với 4-5 vùng hiện nay của Pháp, là cấp độ có thể giải quyết tốt nhất việc quy hoạch lãnh thổ, giải quyết các vấn đề sinh thái, sản xuất năng lượng, giáo dục và phát triển văn hóa, với sự hỗ trợ của một Nhà nước làm nhiệm vụ điều phối và một châu Âu làm nhiệm vụ tập hợp. Có thể tạo ra các nền kinh tế hành chính lớn bằng con đường này. Điều đó tốt hơn là chính sách thắt lưng buộc bụng.
Liên minh châu Âu phải dùng nguồn lực của mình để phát triển nội tại: giảm chi phí quốc phòng bằng cách sử dụng chung phương tiện – cho phép rút ra được hàng chục tỷ USD – và không can thiệp vào các cuộc chiến tranh không liên quan đến mình. Tài trợ cho phát triển kinh tế và mở mang văn hóa của mình – cái mà người Mỹ biết cách làm – bằng ngân sách châu Âu tự chủ và vốn vay đứng tên Liên minh châu Âu, tổ chức hiện chưa mắc một khoản nợ nào, với trái phiếu châu Âu dùng cho đầu tư và tăng trưởng, chứ không chỉ chuyển đổi món nợ của các nước, cũng là một cách làm. Thêm vào đó, châu Âu cần xem lại phương pháp viện trợ cho thế giới – Liên minh châu Âu là tổ chức cung cấp viện trợ hàng đầu với 55% tổng viện trợ của thế giới lên tới 50 tỷ euro – đã trở thành lãng phí không có hiệu quả. Châu Âu cũng cần khuyến khích nghiên cứu y học và chia sẻ kết quả ở mức cao nhất. Dù phương pháp điều hòa nhập cư là như thế nào, đào tạo có hiệu quả hơn con cái người nhập cư sẽ có ích hơn cho châu Âu và thế giới đang gặp nguy khốn.
Châu Âu lúc đó có thể lại trở thành tâm điểm của lịch sử khi đóng vai trò người đi đầu trong các nhóm nước hòa bình và, từ đó, trở thành một yếu tố kích thích các nhóm nước khác. Sứ mệnh của châu Âu từ nay có thể là bình định thế giới – chiến tranh là yếu tố chính gây ra nạn nghèo khổ trong Thế giới thứ ba – và tìm kiếm hợp tác có hiệu quả nhất.
Đó là một chức năng mà châu Âu có thể đảm nhận nhờ phương tiện của nền kinh tế, sự phong phú của nền văn hóa, kinh nghiệm về cơ chế chính trị, và cũng vì châu Âu không có một động cơ đế quốc nào. Chỉ có châu Âu mới có quyền lực cần thiết để thương lượng với Mỹ, có thể đối đầu với Mỹ, mà không cần phải đưa ra chính sách chống Mỹ có hệ thống. Chỉ có châu Âu mới có ý định thương lượng với các nước mới trỗi dậy khác, nếu không phải là với các nền văn minh khác.
Trong các dự thảo luật cho thời kỳ 2014-2020, Ủy ban châu Âu lồng ghép nhiều thành quả của cuộc tranh luận diễn ra từ năm 2009, cụ thể về phát triển lãnh thổ và mối liên hệ giữa gắn kết và đóng góp cho chiến lược Châu Âu 2020 chủ trương tăng trưởng thông minh và bền vững cho tất cả các nước. Các đề xuất đó cũng bao gồm các bài học rút ra từ quá khứ để tạo khuôn khổ chung gắn kết và năng động hơn, chẳng hạn áp dụng đại trà các chỉ số để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp hay sử dụng rộng rãi hơn công cụ tài chính khác ngoài biện pháp trợ giá.
Tương lai của chính sách vùng, dường như được định đoạt tại mỗi cuộc thương lượng về tài chính hàng năm của Liên minh châu Âu. Đó quả thực là một chính sách cần được minh chứng 7 năm/lần trong khi không có nhiều chính sách công được đánh giá như vậy. Chính sách gắn kết của châu Âu cần phải được thực hiện để làm sao thích ứng và thường xuyên tìm kiếm thỏa hiệp chính trị cho phép nó tồn tại và góp phần nâng cao chất lượng sống của mọi người dân châu Âu.
Muốn vậy, ông Raphael Goulet nhấn mạnh đến sự cần thiết phải gắn kết đối với châu Âu và muốn gắn kết, châu Âu phải dân chủ hơn. Từ hơn hai chục năm nay, giá trị gia tăng của chính sách đoàn kết trong Liên minh châu Âu dựa nhiều vào các nguyên tắc chủ đạo của chính sách đó. Cách tiếp cận mang tính chiến lược gắn với kế hoạch hóa hàng năm giúp ổn định việc soạn thảo và thực hiện chính sách đầu tư nhằm tạo ra hệ quả cơ cấu về trung hạn. Hợp tác giữa các thể chế chính phủ ở mọi cấp độ cũng như giữa các thể chế chính trị và đối tác kinh tế và xã hội, tạo điều kiện đế hỗ trợ mạnh mẽ hơn các chiến lược được thực hiện thông qua quy định đồng tài trợ đầu tư. Cuối cùng, tập trung nguồn lực, cả về phương diện địa lý lẫn chủ đề, cho phép xác định chính xác các vùng kém phát triển nhất và các lĩnh vực cần được can thiệp, và có khả năng tạo tăng trưởng và việc làm cao nhất.
Cần thì phải làm và tất cả các chính đảng phải nhận ra điều cần phải làm: đó là muốn có một châu Âu đoàn kết và dân chủ. Chỉ có một Liên minh châu Âu đổi mới mới có thể đương đầu được với thách thức của thế kỷ 21, và chỉ có châu Âu mới có thể bảo vệ được lợi ích, an ninh và nhân cách của công dân châu lục và khiến thế giới hiểu được thông điệp mà châu Âu muốn gửi cho họ.
Châu Âu, và chỉ có châu Âu, mới có khả năng kinh tế, tài chính và văn hóa để lấy lại vai trò của mình trong tiến trình toàn cầu hóa đa cực đang diễn ra, khi sự thống trị của Mỹ suy giảm. Nhưng châu Âu sẽ chỉ thực hiện được vai trò đó nếu đoàn kết với nhau, và châu Âu chỉ có thế đoàn kết được nếu trở nên dân chủ hơn trong các thể chế của mình./.