Thứ Bảy, ngày 28 tháng 7 năm 2012

38. B.Obama, Dick Cheny và chính sách năng lượng Hoa Kì


Trong khi chiến lược chống khủng bố và làn sóng biến động trên toàn cầu của chính quyền Obama ngày một được phổ biến sâu rộng, công luận cũng đã nhận thức lúc một rõ ràng hơn những tương đồng giữa Tổng Thống Barack Obama và Tổng Thống tiền nhiệm George W. Bush, cả hai đều cuồng tín với các hành động quân sự . Aaron David Miller, cố vấn của nhiều bộ trưởng ngoại giao, đã viết trong tạp chí Foreign Policy“Như đã được chứng tỏ trong chiến dịch drone ngày một được tăng cường, Barack Obama đã trở thành Geoge W. Bush với bệnh ghiền [ám sát và thanh toán].”[1]
Tuy nhiên, trong địa hạt chính trị năng lượng toàn cầu, thay vì Bush, Phó T T Cheney mới là mô hình lãnh đạo chọn lựa bởi T T Obama. Như những biến cố gần đây đã minh chứng, chính sách năng lượng toàn cầu của Obama tương tự một cách kỳ lạ với đường lối của Cheney, nhất là trong địa hạt địa-chính-trị năng lượng như một bộ phận trong cuộc tranh giành quyền bá chủ tương lai giữa các nước lớn.
Hơn bất cứ viên chức cao cấp nào khác trong chính quyền Bush — với nhiều thành viên xuất thân từ  kỹ nghệ năng lượng — Cheney luôn quan tâm đến vai trò của năng lượng trong chính trị-quyền lực-toàn cầu [2]. Từ năm 1995 đến năm 2000, Cheney giữ cương vị chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Halliburton, một đại công ty cung cấp dịch vụ cho kỹ nghệ dầu khí. Ngay sau khi chính thức giữ vai trò phó tổng thống, Cheney đã được Bush giao phó trách nhiệm thiết kế chiến lược năng lượng quốc gia mới — một chiến lược định hướng phần lớn chính sách của Hoa Kỳ.
Trước đó, Cheney đã nhận thức rõ số cung năng lượng toàn cầu đã không thể bắt kịp số cầu ngày một gia tăng nhanh chóng của thế giới. Do đó, kiểm soát số cung dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên còn lại có thể là nhiệm vụ thiết yếu đối với bất cứ nhà nước nào tìm cách thủ đắc và duy trì địa vị tối thượng toàn cầu. Cheney cũng hiểu rõ ảnh hưởng và uy quyền của một đại cường có thể bị suy giảm nếu không thể tiếp cận các nguồn cung năng lượng chính yếu.
Nếu trong quá khứ than đá là khí giới thiết yếu của đế quốc Anh, thì ngày nay, đối với Cheney, dầu lửa sẽ là tài nguyên quyết định trong các cuộc chiến.
Hơn bất cứ đối tác nào khác, Cheney có một quan điểm hết sức rõ ràng về tầm quan trọng của năng lượng đối với sự thịnh vượng và uy quyền quốc gia. Tại một hội nghị ở Luân Đôn năm 1999, Cheney đã  tuyên bố: “Dầu lửa, với bản chất độc đáo của nó, luôn mang tính chiến lược. Ở đây, chúng ta đang nói đến không phải bông bọt xà phòng hay y phục thoải mái. Năng lượng luôn mang tính thực sự cơ bản đối với kinh tế thế giới. Cuộc Chiến Vùng Vịnh phản ảnh thực tế nầy.”[3]
Cheney đã tỏ ra đặc biệt ngay thẳng và minh bạch khi nhắc đến Cuộc Chiến Vùng Vịnh 1990-91. Trong suốt cuộc chiến đó, Cheney đang giữ chức vụ bộ trưởng quốc phòng, và trong tư cách đó, đã điều hành và giám sát nổ lực chiến tranh của Mỹ. Trong khi cấp trên của chính ông, T T George H.W. Bush, đã cố tình lờ đi vai trò của dầu lửa trong cuộc chiến Iraq, Cheney lại bộc trực nói rõ quan điểm và niềm tin của chính mình: địa-chính-trị năng lượng là lý do trung tâm của cuộc chiến.
Khi được yêu cầu giải thích quyết định can thiệp của chính quyền, Cheney cũng đã tuyên bố trước Ủy Ban Quân Lực Thượng Viện[4]“Một khi [nhà độc tài Iraq  Saddam Hussein] đã chiếm được Kuwait và giàn trải toàn bộ quân lực lớn lao của mình, Saddam rõ ràng đã chiếm giữ vị thế có thể chi phối chính sách năng lượng trên toàn thế giới trong tương lai, và điều nầy đã đem lại cho Saddam quyền kiểm soát kinh tế của chúng ta.”[5]
Năm 2002, Cheney cũng đã công bố cùng một thông điệp, khi T T Georges W. Bush đang chuẩn bị xâm lăng Iraq. Thực vậy, ngày 15-8-2002, Cheney đã tuyên bố với một nhóm cựu quân nhân: “Nếu Saddam Hussein thành công trong việc thủ đắc các vũ khí tiêu diệt hàng loạt, ‘lúc đó Saddam rất có thể sẽ tìm kiếm quyền bá chủ trong toàn vùng Trung Đông và kiểm soát phần lớn các nguồn cung năng lượng thế giới’.”[6]
Đối với Cheney, địa chính trị dầu lửa — cốt lõi trong các quan hệ quốc tế — là yếu tố quyết định phần lớn sự cường thịnh hay suy sụp của các quốc gia. Trên căn bản đó, chúng ta có thể hiểu: mỗi một bước, kể cả tai họa chiến tranh hay môi sinh, đều có thể biện minh, chừng nào quyền lực của Hoa Kỳ, nhờ đó, còn được thăng tiến và gây thương tổn cho các quốc gia cạnh tranh với Hoa Kỳ.
THẾ GIỚI CỦA CHENEY
Qua các bài nói chuyện, các cuộc điều trần trước Quốc Hội, và các việc làm khi tại chức, chúng ta có thể tái cấu trúc chương trình địa-chính-trị Cheney đã theo đuổi trong suốt sự nghiệp của ông như một chiến lược gia hàng đầu tại Bạch Ốc — một chiến lược T T Obama, một cách khá kỳ lạ, hình như hiện đang thể hiện, mặc dù với rất nhiều bất trắc, nguy cơ.
Chương trình gồm bốn sắc thái then chốt:
(1)  Gia tăng sản ngạch dầu và hơi đốt thiên nhiên quốc nội bằng mọi giá,  nhằm giảm thiểu trình độ lệ thuộc vào các nguồn cung từ các xứ thiếu thiện cảm, do đó, tăng khả năng tự do hành động của Hoa Kỳ.
(2) Duy trì quyền kiểm soát các nguồn cung từ Vùng Vịnh Ba Tư ngay cả khi Hoa Kỳ chỉ cần một phần ngày một ít hơn trong sản ngạch từ vùng nầy, khả dĩ phát triển khả năng chi phối sinh hoạt kinh tế của các đại cường nhập khẩu khác.
(3) Nắm quyền bá chủ các tuyến vận chuyển dầu trên các đại dương ở Á châu, ngõ hầu kiểm soát dòng chảy dầu khí và các nguyên liệu khác đến các nước lớn có tiềm năng cạnh tranh kinh tế  với Hoa Kỳ, như Nhật và TQ.
(4) Phát huy khuynh hướng đa dạng hóa năng lượng ở Âu châu, đặc biệt qua sự gia tăng nhập khẩu dầu và hơi đốt từ các Cộng Hòa Xô Viết trước đây trong vùng lòng chảo Caspian, với mục tiêu giảm bớt  lệ thuộc vào dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên do Nga cung cấp, cùng với ảnh hưởng chính trị đi kèm có lợi cho Mạc Tư Khoa.
PHÚC TRÌNH CHENEY
Mục tiêu thứ nhất — dựa vào ngạch số sản xuất năng lượng quốc nội nhiều hơn — đã được nhấn mạnh trong Chính sách Năng Lượng Quốc Gia, chiến lược do Cheney thiết kế dưới thời tổng thống Bush II trong tháng 5-2001, với sự tư vấn của đại diện các công ty dầu lớn.
Mặc dù được biết như chủ trương tăng cường công tác thăm dò và khai thác trong các vùng đất do chính quyền liên bang sở hữu, kể cả Vùng Bảo Vệ Các Thú Vật Hoang Giã Bắc Cực[7],  Phúc trình Cheney — như đã được mệnh danh — luôn chú tâm vào nguy cơ  lệ thuộc ở các nguồn cung cấp dầu và hơi đốt thiên nhiên ngoại quốc ngày một sâu xa, và vào nhu cầu nhanh chóng thành đạt an ninh năng lượng qua chương trình tăng tốc công tác thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng quốc nội.
Phúc Trình công bố:“Đối tượng hàng đầu của Chính Sách Năng Lượng Quốc Gia là tìm kiếm thêm các nguồn cung khác nhau. Điều nầy có nghĩa dầu, hơi đốt thiên nhiên, than đá quốc nội. Nó cũng có nghĩa thủy điện và điện hạt nhân.”[8] Kế hoạch cũng kêu gọi tập trung nổ lực gia tăng năng lượng nhập khẩu từ các nguồn cung thân thiện ở Tây Bán Cầu , đặc biệt là từ Brazil, Canada, và Mexico.
Mục tiêu thứ hai — kiểm soát dòng chảy dầu lửa qua Vịnh Ba Tư — đối với Cheney,  là lý do chính của cả Cuộc Chiến Vùng Vịnh I  năm 1990-91, và Cuộc Chiến Xâm Lăng Iraq năm 2003.
Mặc dù trước cuộc xâm lăng, Tổng Thống và các quan chức hàng đầu đã chú tâm vào các lý do giả tưởng  – vũ khí tiêu diệt hàng loạt, thành tích nhân quyền, và nhu cầu mang lại dân chủ cho Iraq — Cheney không bao giờ nao núng trong niềm tin: mục tiêu căn bản luôn là đem lại quyền kiểm soát dòng chảy dầu lửa huyết mạch của Trung Đông.
Mục tiêu thứ ba: Sau khi Saddam Hussein đã bị lật đổ và cuộc chiếm đóng Iraq bắt đầu, Cheney đã đặc biệt lớn tiếng nhấn mạnh cần ngăn chặn Iran, nếu cần bằng vũ lực — một quốc gia láng giềng thách thức quyền bá chủ của Hoa Kỳ trong vùng Vịnh.
Cheney đã tuyên bố trên boong tàu sân bay trong một cuộc dượt tập ngoài khơi Iran trong tháng 5-2007: “Chúng ta sẽ giữ các tuyến đường biển rộng mở. Chúng ta sẽ cùng đứng chung với các quốc gia khác để ngăn ngừa Iran sở hữu các vũ khí hạt nhân và trở thành bá chủ trong vùng.”[9]
Cheney cũng đặc biệt chú tâm vào việc duy trì quyền kiểm soát các tuyến đường biển từ Eo Biển Hormuz, cữa ra vào Vùng Vịnh Ba Tư (hàng ngày khoảng 35% số dầu trao đổi trên thế giới), xuyên qua Ấn Độ Dương, Eo Biển Malacca, và đi vào Biển Đông hay Đông Nam Thái Bình Dương.
Cho đến nay, các hành lang hàng hải vừa nói vẫn luôn giữ tầm quan trọng thiết yếu đối với sự trường tồn kinh tế của các xứ TQ, Nhật, Nam Hàn, và Taiwan — vận chuyển dầu và các nguyên liệu khác đến các kỹ nghệ và các biến chế phẩm đến các thị trường hải ngoại.
Qua việc duy trì quyền kiểm soát bởi Hoa Kỳ dọc các tuyến đường hàng hải huyết mạch nói trên, Cheney đã tìm cách bảo đảm sự trung thành của các đồng minh nòng cốt ở Á châu và hạn chế đà tăng trưởng của TQ.
Trong phạm vi theo đuổi các mục tiêu địa chính trị cổ điển đó, Cheney đã thúc đẩy tăng cường sự hiện diện của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương và thiết lập một mạng lưới đồng minh quân sự nối kết Nhật, Úc, và Ấn Độ, tất cả đều nhằm ngăn bờ TQ.
Mục tiêu thứ tư và cuối cùng: Hoa Kỳ cũng đã tìm cách vây hãm một đại cường cạnh tranh khác:Liên Bang Nga. Trong khi chủ mới của chính Cheney, George W. Bush, đã đánh tiếng cho biết tiềm năng hợp tác với Điện Cẩm Linh, Cheney, vẫn còn là chiến binh năng lượng thời chiến tranh lạnh, tiếp tục xem Liên Bang Nga như một quốc gia cạnh tranh địa chính trị và đã tìm mọi cơ hội giảm thiểu quyền lực và ảnh hưởng của Liên Bang Nga.
Cheney đặc biệt âu lo sự lệ thuộc ngày một gia tăng của Âu châu vào hơi đốt thiên nhiên của Nga có thể làm suy yếu quyết tâm đề kháng các động thái cường quyền của Nga ở Âu châu và vùng Caucasus.
Để chống lại khuynh hướng nầy, Cheney đã nổ lực thuyết phục người Âu Châu tậu mãi năng lượng nhiều hơn từ các Cộng Hòa trong vùng lòng chảo Caspian bằng cách xây dựng những tuyến ống dẫn năng lượng mới tới vùng nầy qua ngã Georgia và Turkey. Ý tưởng là để tránh Liên Bang Nga qua nổ lực thuyết phục Azerbaijan, Kazakhstan, và Turmenistan xuất khẩu hơi đốt của họ qua các tuyến đường ống mới, không phải những tuyến ống dẫn do Gazprom, một công ty quốc doanh độc quyền của Liên Bang Nga, sở hữu.
Khi Georgia bị các lực lượng Liên Bang Nga tấn công vào tháng 8-2008 để đáp lại các cuộc  pháo kích của Georgia vào South Ossetia thân Mạc Tư Khoa, Cheney là quan chức lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên viếng thăm Tbilisi, với lời hứa dành 1 tỉ USD viện trợ tái thiết, cùng với  thẻ gia nhập NATO chóng vánh. Tuy nhiên, lời hứa thu nhận Georgia vào NATO,  sau đó, đã bị chận đứng vì Pháp và Đức e ngại Moscow có thể phản ứng với những hành động có thể làm Âu Châu mất ổn định.[10]
OBAMA VÀ PHÚC TRÌNH CHENEY
Kế hoạch địa chính trị bốn điểm nói trên, đã được Phó Tổng Thống Hoa Kỳ kiên trì theo đuổi trong 8 năm đương nhiệm, ngày nay đang được T T Obama thể hiện trong mọi khía cạnh.
Trên bình diện chính sách gia tăng độc lập năng lượng, Obama đã chấp nhận tinh thần quốc gia cực đoan của Phúc Trình Cheney 2001, kêu gọi nương tựa nhiều hơn vào dầu lửa và hơi đốt quốc nội và Tây Bán Cầu — bất chấp mọi nguy cơ khoan dầu trong những vùng ngoài khơi có môi trường mong manh dễ bị ô nhiễm hay sử dụng những kỹ thuật nguy hiểm như hydro-fracking. Trong những bài nói chuyện gần đây, Obama đã khoe những nổ lực của chính quyền làm dễ dàng công tác khoan và khai thác dầu và hơi đốt thiên nhiên quốc nội và đã hứa đẩy nhanh công tác khoan dầu và hơi đốt trong nhiều địa điểm mới, kể cả ngoài khơi Alaska và Vịnh Mexico.
Trong diễn văn về Tình Trạng Liên Bang trong tháng 1-2012, Obama đã khoa trương: “Trong vòng ba năm qua, chúng ta đã  mở cửa cho  phép thăm dò dầu và hơi đốt thiên nhiên trong hàng triệu acres mới, và tối nay, tôi đã chỉ thị cho chính quyền mở thêm hơn 75% các khu tài nguyên dầu và hơi đốt tiềm năng ngoài khơi.  Hiện giờ — hiện giờ — số dầu sản xuất của Hoa Kỳ đang ở mức cao nhất trong vòng 8 năm qua… Không những thế — năm rồi, chúng ta đã lệ thuộc vào dầu các nước ngoài ít hơn bất cứ năm nào trong vòng 16 năm qua.”[11]
Obama cũng đã đặc biệt quan tâm đến chương trình khai thác hơi đốt thiên nhiên sử dụng kỹ thuậtfracking và các trữ lượng shale“Chúng ta có một nguồn cung hơi đốt thiên nhiên có thể đủ cung ứng cho Hoa Kỳ đến gần 100 năm. Và chính quyền sẽ có mọi hành động cần thiết và có thể để khai thác số năng lượng nầy một cách an toàn.”[12]
Obama cũng đã nói rõ ý định sẽ sốt sắng hợp tác trong nổ lực phát triển các nguồn cung năng lượng ở Tây Bán Cầu, nhờ đó, giảm bớt mức độ lệ thuộc vào các nguồn cung không mấy khả tín và thiếu thiện cảm ở Trung Đông và Phi Châu.Tháng 3-2011, với Mùa Xuân Á Rập đang nở rộ, Obama đã dành 5 ngày để đến Brazil thương thuyết về mậu dịch, một chốt địa chính trị năng lượng đáng ghi nhận vào thời điểm đó.
Trong tầm nhìn của nhiều quan sát viên, sự quan tâm của Obama đối với Brazil chính là do sự kiện Brazil đang trỗi dậy như một quốc gia sản xuất dầu lửa quan trọng ở Tây Bán Cầu, nhờ ở những khám phá gần đây trong những khu vực “pre-salt” ngoài khơi Đại Tây Dương, những khám phá có thể giúp Hoa Kỳ bớt lệ thuộc vào dầu Trung Đông, nhưng cũng có thể trở thành những ác mộng ô nhiễm.
Mặc dù các nhà môi sinh học đã nhiều lần cảnh cáo những nguy cơ trong quá trình khoan tìm và khai thác các khu vực chứa nhiều trữ lượng pre-salt, nơi nguy cơ bùng nổ tương tự như biến cốDeepwater Horizon ngoài khơi Mexico luôn dễ dàng xẩy ra, Obama cũng đã nói rõ các ưu tiên địa chính trị của chính Tổng Thống.
Obama đã tuyên bố với giới lãnh đạo doanh thương Brazil tại thủ đô Brasilia: “Theo vài ước tính, trữ lượng dầu lửa quý vị mới khám phá gần đây ngoài khơi Brazil có thể gấp đôi trữ lượng chúng tôi đang có ở Hoa Kỳ. Khi quý vị sẵn sàng khởi đầu bán, chúng tôi muốn là một trong số những quốc gia khách hàng tốt nhất. Vào thời điểm khi chúng ta đã luôn được nhắc nhở, tình trạng thiếu ổn định ở nhiều nơi trên thế giới có thể dễ dàng ảnh hưởng đến giá dầu như thế nào, Hoa Kỳ không thể nào vui sướng hơn với tiềm năng một nguồn năng lượng mới và ổn định.”[13]
Cùng lúc, Obama đã nói rõ Hoa Kỳ sẽ duy trì vai trò một quốc gia bảo vệ cơ bản các tuyến vận chuyển đường biển trong Vịnh Ba Tư. Ngay trong khi rầm rộ quảng bá quyết định rút quân tác chiến khỏi Iraq, Obama cũng đã nhấn mạnh Hoa Kỳ  sẽ tăng cường các lực lượng hải và không quân, cũng như  biệt kích trong vùng Vịnh, khả dĩ duy trì quyền bá chủ trong vùng.
“Trở về tương lai” — “Back to the future” là cách Trung Tướng Karl R. Horst, tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh Trung Ương, đã mô tả vị thế mới, nhắc lại thời điểm trước cuộc xâm lăng Iraq khi Hoa Kỳ đã sử dụng quyền bá chủ trong vùng, chủ yếu đã trông cậy vào các lực lượng hải và không quân hùng mạnh của một siêu cường.
Mặc dù ít lộ liểu và dễ thấy như bộ binh (boots on the ground), sự hiện diện của các lực lượng hải và không quân được tăng cường sẽ được giữ ở mức đủ mạnh để đè bẹp bất cứ đối thủ có thể quan niệm nào khác. Tháng 10- 2011, Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố: “Chúng ta sẽ có một sự hiện diện liên tục và hùng mạnh khắp trong vùng.”[14]
Một sự tăng cường như thế, trong thực tế, đã được nhấn mạnh đang chuẩn bị hoặc cho một cuộc tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran, nếu Obama kết luận các cuộc thương thảo nhằm hạn chế khả năng làm giàu uranium của Iran đã gặp bế tắc, hoặc để khai thông Eo Biển Hormuz, nếu Iran thực thi lời đe dọa đóng cửa Eo Biển Hormuz nhằm trả đũa các biện pháp chế tài kinh tế mới và khắt khe hơn đã được áp đặt sau ngày 1-7-2012.
Cũng như Cheney, Obama đang tìm cách duy trì quyền kiểm soát của Hoa Kỳ đối với các tuyến vận chuyển hàng hải từ Eo Biển Hormuz đến vùng Thái Bình Dương phía Nam Trung Quốc.
Trong thực tế, đây chính là tâm điểm của chính sách Obama như đã được quảng bá: “chốt an ninh quốc gia” ở Á Châu-Thái Bình Dương và chủ thuyết quân sự mới của Obama, được tiết lộ lần đầu trong bài diễn văn đọc trước Nghị Viện Úc ngày 17-11-2011.
Obama đã tuyên bố: “Trong khi chúng tôi làm kế hoạch và chuẩn bị ngân sách cho tương lai, chúng tôi sẽ phân bổ tài nguyên cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự hùng mạnh của chúng tôi trong vùng nầy.”[15] Ông cho biết thêm, một ưu tiên quan trọng trong nổ lực nầy có thể là “an ninh hàng hải”, đặc biệt trong vùng biển Nam Trung Quốc.
Tâm điểm của kế hoạch Obama — cũng như kế hoạch do Dick Cheney thiết kế năm 2007 — là xây dựng một mạng lưới các căn cứ và đồng minh vây quanh TQ, siêu cường đang lên, trong một vòng cung trải dài từ Nhật và Nam Hàn ở phía Bắc đến Úc, Việt Nam, và Philippines phía Đông Nam, và từ đó đến Ấn Độ trong vùng Tây Nam.
Khi mô tả nổ lực nầy ở Canberra, Obama đã tiết lộ ông vừa đạt được một thỏa ước với chính quyền Úc,  thiết lập một căn cứ quân sự Hoa Kỳ mới ở Darwin trên bờ biển Bắc Úc, gần biển Nam Trung Quốc. Obama cũng đã nói đến mục tiêu tối hậu của địa chính trị Hoa Kỳ — một liên minh toàn vùng gồm các quốc gia chống Trung Quốc, có thể cả Ấn Độ.
Obama tuyên bố: “Chúng tôi thấy  sự hiện diện được tăng cường của Hoa Kỳ xuyên Đông Nam Á,”cùng lúc trong những quan hệ ngày một lớn mạnh với các cường quốc địa phương như Úc “cũng như trong sự nghênh tiếp của chúng tôi dành cho Ấn Độ, quốc gia đang ‘nhìn về phía Đông’ và giữ một vai trò rộng lớn hơn như một đại cường Á châu.”[16]
Như bất cứ ai quan tâm đến tình hình Á châu đều hiểu rõ, một chiến lược nhằm bao vây TQ — nhất là một chiến lược có ý định kết nạp Ấn Độ vào hệ thống đồng minh Á châu hiện hữu của Hoa Kỳ  — chắc chắn sẽ gây hoang mang, báo động, và phản ứng mãnh liệt từ Bắc Kinh. Mark Valencia, nhà nghiên cứu kinh nghiệm thuộc Văn Phòng Quốc Gia Nghiên Cứu Á Châu, đã phát biểu: “Tôi không nghĩ người TQ sẽ rất vui thích. Trong trường kỳ, tôi không chút lac quan về kết cuộc.”[17]
Sau hết, Obama đã đi theo dấu chân của Cheney trong nổ lực giảm thiểu ảnh hưởng của Liên Bang Nga ở Âu châu và Nam Á qua việc cổ súy xây dựng những tuyến ống dẫn dầu và hơi đốt mới từ vùng lòng chảo Caspian ngang qua Georgia và Turkey đến Âu châu.
Ngày 5 tháng 6, tại Hội Nghị Dầu và Hơi Đốt Caspian ở Baku, T T Ilam Aliyev của Azerbaijan đã đọc một thông điệp từ Obama hứa hẹn sự hậu thuẩn của Hoa Thịnh Đốn đối với tuyến ống dẫn hơi đốt Trans-Anatolia, hệ thống ống dẫn được thiết kế nhằm vận chuyển hơi đốt thiên nhiên từ Azerbaijan đi ngang qua Georgia và Turkey đến Âu châu — dĩ nhiên tránh Liên Bang Nga. Cùng lúc, Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng công du đến Georgia, giống như Cheney đã làm trước đây, để xác nhận sự yểm trợ và  lời hứa gia tăng viện trợ quân sự của Mỹ.
Cũng như trong kỷ nguyên Bush-Cheney, những động thái nầy đã được Mạc Tư Khoa xem như một phần trong kế hoạch đã được tính toán kỷ lưởng nhằm giảm bớt ảnh hưởng của Liên Bang Nga trong vùng — và do đó, sẽ gặp phải một phản ứng thù nghịch.
Nói một cách vắn tắt, trong hầu hết mọi khía cạnh, khi nói đến địa chính trị năng lượng, chính quyền Obama đang tiếp tục thực thi chiến lược do Dick Cheney thiết kế trong suốt hai nhiệm kỳ của T T George W. Bush.
Đến đây, một câu hỏi cần được trả lời: Nguyên do của lối ứng xử đáng ngạc nhiên của Obama?
Giả thiết cách ứng xử của Obama không phản ảnh một nổ lực đơn thuần lặp lại tư duy của Cheney — và cũng không có dấu hiệu gì như thế; do đó, cách ứng xử của Obama rõ ràng đã phản ảnh sự đắc thắng của địa chính trị đế quốc đối với hệ ý thức, nguyên tắc, hay ngay cả thái độ đơn thuần cởi mở trước các ý tưởng mới.
Khi chúng ta đang đối mặt với hai nhân vật khác nhau như Obama và Cheney lần lượt dõi theo cùng một hướng đi trong thế giới — và kết cục lần đầu với Cheney là bất cứ điều gì ngoại trừ thành công — cách ứng xử của Obama lúc đó rõ ràng là dấu hiệu  thế giới của Hoa Thịnh Đốn đã trở nên khép kín và thật sự ngột ngạt.
Vào một thời điểm khi đa số người Mỹ đang mệt mỏi chán chường trước những xung đột giữa các hệ ý thức lớn, sự dõi theo các quyền lợi quốc gia đơn thuần và hẹp hòi dưới hình thức số cung năng lượng đươc đảm bảo — có thể quyến rũ hơn nhiều như  lý do để can thiệp chính trị và quân sự ở hải ngoại.
Vả chăng, Obama và các cố vấn có lẽ đang bị ảnh hưởng  bởi luận thuyết: một thời đại vàng son mới của dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên ở phía Bắc Tây Bán Cầu, nhờ  ở kỷ thuật khai thác các trữ lượng shale và các tài nguyên năng lượng  phi quy ước  và gây ô nhiễm khác.
Theo dự báo của Bộ Năng Lượng, sự lệ thuộc của Hoa Kỳ vào năng lượng nhập khẩu từ các nước ngoài có khuynh hướng sụt giảm trong những năm sắp tới, trong khi sự lệ thuộc của TQ ngày một gia tăng –  một lợi thế địa chính trị đối với Hoa Kỳ, một lợi thế Obama hình như đang thích thú thụ hưởng.
Đã hẳn, đó là là một điều dễ hiểu khi T T  Obama và các chiến lược gia Tòa Bạch Ốc tỏ ra hồ hởi trước viễn tượng quyến rũ của một vài lợi thế  địa chính trị năng lượng, nhất là trước những khó khăn kinh tế tài chánh Hoa Kỳ hiện đang đối mặt và những khí cụ chính trị, quân sự khác của Mỹ ngày một mất tính hữu dụng.
Ngoài ra, trừ phi người Mỹ sẵn sàng làm ngơ trước những nguy cơ ngày một gia tăng đối với môi trường khi lệ thuộc ngày một nhiều hơn vào việc thăm dò và khai thác các hình thức năng lượng phi quy ước như  các trữ lượng dầu dưới biển sâu, hơi đốt shale…, sản ngạch năng lượng gia tăng có thể sẽ đem lại vài lợi điểm địa chính trị.
Tuy nhiên, như lịch sử đã minh chứng, cố tình tìm kiếm những va chạm đối nghịch, qua những chính sách gây hấn địa chính trị toàn cầu, với các tay chơi kiên định,  được trang bị vũ khí đầy đủ, thường dẫn đến khủng hoảng, chiến tranh, và tai họa.
Trên bình diện nầy, những động thái địa chính trị của Cheney trước đây đã từng đem lại hai cuộc chiến tốn kém và tàn nhẫn ở Trung Đông, cùng lúc gây thêm căng thẳng với TQ và Liên Bang Nga.
Cho đến nay, T T Obama luôn hứa hẹn tìm cách xây dựng một thế giới hòa bình hơn,  dõi theo chính sách năng lượng của Cheney, như Obama đã lựa chọn, chắc chắn sẽ dẫn đến một thực tế hoàn toàn trái ngược.
Nguyễn Trường
Irvine, California, USA
06 -7-2012

[1] As shown through his stepped-up drone campaign, Barack Obama has become George W. Bush on steroids.
[2] Global power politics.
[3] …Oil is unique in that it is so strategic in nature. We are not talking about soapflakes or leisurewear here. Energy is truly fundamental to the world’s economy. The Gulf War was a reflection of that reality.
[4] Senate Armed Services Committee.
[5] Once [Iraqi autocrat Saddam Hussein] acquired Kuwait and deployed an army as large as the one he possesses, he was clearly in a position to be able to dictate the future of wordwide energy policy, and that gave him a stranglehold on our economy.
[6]  Were Saddam Hussein successful in acquiring weapons of mass destruction, “[he] could then be expected to seek domination of the entire Middle East [and] take control of a great portion of the world’s energy supplies.”
[7] …Arctic National Wildlife Refuge…
[8] A primary goal of the National Energy Policy is to add supply from diverse sources. This means domestic oil, gas, and coal. It also means hydropower and nuclear power.
[9] We’ll keep the sea lanes open. We’ll stand with others to prevent Iran from gaining nuclear weapons and dominating the region.
[10] Xin xem thêm Thế Giới Thời Hậu Chiến Tranh Lạnh [Chính Trị Năng Lượng: Bàn Cờ Caucasus] tr. 763-770, Nguyễn Trường, Nhà Xuất Bản Tri Thức, 26-11-2010, Hà Nội, Việt Nam. 
[11] Over the past three years, we’ve opened millions of new acres for oil and gas exploration, and tonight, I’m directing my administration to open more than 75% of our potential offshore oil and gas resources. Right now — right now — American oil production is the highest that it’s been in eight years …Not only that– last year, we relied less on foreign oil than in any of the past 16 years.
[12] We have a supply of natural gas that can last America nearly 100 years. And my administration will take every possible action to safely develop this energy.
[13] By some estimates, the oil you recently discovered off the shores of Brazil could amount to twice the reserves we have in the United States. When you’re ready to start selling, we want to be one of your best customers. At a time when we’ve been reminded how easily instability in other parts of the world  can affect the price of oil, the United States could not be happier with the potential for a new, stable source of energy.
[14] We will have a robust continuing presence throughout the region.
[15] As we plan and budget for the future, we will allocate the resources necessary to maintain our strong military presence in this region.
[16] “We see America’s enhanced presence across Southeast Asia,” both in growing ties with local powers like Australia and “in our welcome of India as it ‘looks east’ and plays a larger role as an Asian power.”
[17] I don’t think they’re going to be very happy. I’m not optimistic in the long run as to how this is going to wind up.