Thứ Hai, ngày 23 tháng 4 năm 2012

29. Vài nét về chủ nghĩa thực dụng Mỹ

Trịnh Sơn Hoan

Chủ nghĩa thực dụng là nét đặc trưng của văn hóa Mỹ, nó có vai trò quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển của nước Mỹ. Bài viết này đề cập đến quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa thực dụng ở nước Mỹ, đồng thời chỉ ra ảnh hưởng của nó ở bên ngoài biên giới Mỹ.

1. Đặt vấn đề
Trong các trào lưu triết học hiện đại ở Mỹ thì chủ nghĩa thực dụng là trường phái tiêu biểu nhất. Chủ nghĩa  thực dụng ra đời cùng với  tiến  trình phát  triển của nước Mỹ hiện đại, và có  tác động không nhỏ đến sự hùng cường của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Người Mỹ coi chủ nghĩa thực dụng là một công cụ hữu hiệu bậc nhất để khẳng định bản sắc và phát huy nội lực cho phát triển. Qua thời gian, chủ nghĩa thực dụng trở thành linh hồn của dân tộc Mỹ vì rằng, chính chủ nghĩa thực dụng đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa nổi trội trong một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc. 
2. Nội dung
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Xu hướng nổi trội của người Mỹ (kể cả phương Tây) là  thực  chứng. Vì thế, những  lý  thuyết được tin dùng nhất phải  là những  lý  thuyết được kiểm  nghiệm bằng chính sự cảm nhận của mỗi cá nhân. Giá trị cá nhân với người Mỹ được xếp hàng đầu trong dòng nhân sinh - xã hội.
Chủ nghĩa thực dụng là một loại thực chứng vì chủ trương ban đầu phải là miêu tả cho được sự  thật kinh nghiệm, có mục  tiêu giành  lấy hiệu quả  thực  tế. Và như vậy, chủ  nghĩa  thực  dụng  kế  thừa  gần  trọn  vẹn  chủ  nghĩa  kinh  nghiệm  và  chủ  nghĩa  hiện tượng của D. Hume, coi căn cứ khoa học tự nhiên thực nghiệm là cơ sở lý luận của triết học, lãng tránh vấn đề cơ bản của triết học, mang tham vọng cải tạo lại triết học truyền thống.
Nếu  triết học  là tinh th ần của  thời đại  thì chủ nghĩa  thực dụng chính  là  sự  thể hiện  tập  trung  tinh  thần của nước Mỹ. Đối với nước Mỹ, chủ nghĩa  thực dụng  là một loại “đặc  sản  tinh  thần”. Vì vậy,  “nếu nói có một  loại  triết học nào  trên  thế giới bắt nhịp chặt chẽ nhất với mạch đập của thời đại, trước hết cần nêu lên triết học chủ nghĩa thực dụng của nước Mỹ. Chủ nghĩa  thực dụng Mỹ  là  linh hồn của  tinh  thần Mỹ được nẩy sinh theo tiếng gọi của thời đại Mỹ, có chung số phận với sự phát triển của xã hội Mỹ, trở thành triết học nhân sinh của người Mỹ”.
Chủ nghĩa  thực dụng  là biến  thể của một nền  triết học mới. Đây  là một  thực  tế có căn cứ khách quan, khoa học bởi vì chính sự phát triển vượt bậc để trở thành cường quốc kinh  tế của nước Mỹ vào cuối  thế kỷ XIX, đầu  thế kỷ XX  là cơ sở cho sự hình thành và phát tri ển  của  chủ nghĩa  thực dụng và  chính học  thuyết này đã  tạo nên  sức mạnh  tiềm ẩn ẩn chứa  trong xã hội,  làm cơ sở cho đời sống  tinh  thần, dung hợp được với ý chí “vươn vượt” của người Mỹ.
Chủ nghĩa thực dụng xuất hiện ở quốc gia mà ở đó, tự do được xem là biểu tượng. William James đã ví chủ nghĩa thực dụng như ánh hào quang mới trong triết học: “thật giống như tia chớp trong đêm tối mù mịt vậy!”
Nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa thực dụng là từ "câu lạc bộ siêu hình" của trường Đại học Harvard (1871). Theo C.S. Pierce, câu lạc bộ này có tên gọi như vậy là “để tránh xa mọi người mà nó cần tránh xa”, nhưng thực chất nó nhằm diễn tả hai vấn trọng tâm và có tính thời sự: 
Thứ nhất, ông khẳng định, thành luỹ chủ nghĩa duy tâm khách quan của Heghen một thời thống trị trong triết học thì nay đã hết vai trò lịch sử và đã đến lúc phải lui vào hậu trường, nhường lại sân khấu cho “sự diễn xuất hợp thời thượng”.
Thứ hai, thuật ngữ có tên gọi“siêu hình học”  trước đây có lúc bị khinh miệt và phỉ báng nhưng nay người ta phải thoả hiệp và chấp nhận nó. Vì vậy, danh từ “siêu hình học” vào thời khắc đó được người ta cắt nghĩa làm hai rằng: “một nửa trào lộng và một nửa xấc xược”.
Những thành viên đầu tiên xây dựng “câu lạc bộ siêu hình” gồm có nhà sử học J. Fiske, Luật sư O. W. Holmes,  thẩm phán J. Warrner, nhà luật học N.J. Green, mục sư Aponte, nhà tâm lý học Wright cùng C.S. Pierce và W. James. Những người này nhóm họp lại với nhau một tháng hai lần và tranh luận về tất cả những vấn đề mà họ thích, đặc biệt là những vấn đề sát thực cuộc sống.
Chủ nghĩa thực dụng chính thức trở thành học thuyết khi C.S.Pierce đưa ra tiểu luận: “Làm thế nào để tư tưởng của ta sáng sủa” và một bài viết “Sự xác định của tín người” đăng trên Nguyệt san khoa học phổ thông - 1878. Đây chính là nh ững viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng thực dụng Mỹ. Có thể dễ dàng nhận thấy W. James là người đầu tiên quan niệm chủ nghĩa thực dụng như là một hệ thống triết học mới phù hợp với lối sống và tình cảm của người Mỹ. Trong bài “Khái niệm triết học và hiệu quả thực  tế” ông đã trình bày v ề chủ nghĩa  thực dụng, và  thừa nhận, chính C.S.  Pierce là người phát minh ra chủ nghĩa thực dụng, còn ông chỉ là người làm sáng tỏ công lao của C.S.Pierce. Tên g ọi  như  thế,  theo  C.S. Pierce  không phù h ợp   và  ông  đổi  thành  “chủ nghĩa thực hiệu” để phân biệt với “chủ nghĩa thực dụng” của W. James. 
Không chỉ C.S. Pierce và W. James bất đồng với nhau mà bản thân các nhà thực dụng trong quá trình xây dựng triết thuyết không  thống nhất được với nhau về tên gọi. Vì thế, W.J ames thì g ọi  là “chủ nghĩa đa nguyên”, Schiller  thì gọi  là “chủ nghĩa nhân đạo”, Seamen thì gọi là “chủ nghĩa triển vọng”, còn J. Dewey thì gọi là “chủ nghĩa công cụ”. Nhưng dù thế nào thì đó cũng chỉ là cách thuật lại của từng người mà thôi, bởi vì C.S.Pierce được xác định là người khởi sự cho một sự phát triển. Chính ông đã sáng lập ra chủ nghĩa  thực dụng. Công  lao  lớn nhất của C.S.Pierce  là hệ  thống hoá các phương pháp và khái quá hoá về lý luận được nêu lên trong “câu lạc bộ siêu hình”.
Chủ nghĩa  thực dụng, về  thực  chất  chịu  ảnh hưởng  của  các  tư  tưởng  triết học trước đó như: Socrat, J.Locker, Bercly, D.Hume, Kant, Holbach và kể cả Nietzsche,... trong đó có c ả những tư tưởng của  chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ duy danh, chủ nghĩa vị lợi, chủ nghĩa thực chứng. 
Về  mặt  thuật  ngữ:  chủ  nghĩa  thực  dụng  (Pragmatism)  có  căn  cứ  trong  từ “Pragma”  (Hy L ạp) mang hàm nghĩa  “thực  tiễn”, “hành động”. Trong khi đó,  thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, và hành động là nguyên nhân dẫn tới hậu quả. Chủ nghĩa thực dụng đã nhạy bén nắm lấy căn cứ này làm mục tiêu. Vì vậy, một số triết gia thực dụng đã  lớn  tiếng  tuyên bố  triết học của mình  là “triết học  thực  tiễn”, “triết học hành động” hay  là “triết học đời sống”. Tuy nhiên, “hiện  thực” mà chủ nghĩa  thực dụng nói đến chỉ  là hiện  thực mà con người  (chủ  thể) đã  trải qua, đã xử  lý, đã cải  tạo, và hoàn toàn mang tính ch ủ  quan.  Với  chủ  nghĩa  thực  dụng  thì  “niềm  tin”  được  xác  lập  là nguyên vọng tha thiết của cá nhân, vì đó là điểm xuất phát của mọi diễn biến cuộc sống.
“Hành động” hay “thực tiễn” là ý chí chủ quan thuần tuý của chủ thể. Còn “hiệu quả” là một sự phù hợp của thực tế khách quan đối với lợi ích mà chủ thể hướng tới. J.Dewey cho rằng, “ý nghĩa thực sự của vấn đề hành động của con người đó là hành động như thế nào cho có l ợi cho cuộc sống của  tôi, đạt được sự  thành công do  tôi đề ra” [2]. Người đặt nền móng cho chủ nghĩa thực dụng chính là C.S.Pierce, người bảo tồn và phát huy, đưa nó lên tầm cao là W.James, còn J.Dewey là “một hậu duệ làm xứng danh gia phong thực dụng”, làm cho cả thế giới biết đến chủ nghĩa thực dụng như là một học thuyết làm nền tảng cho đời sống tinh thần của nước Mỹ. C.S.Pierce, W.James và J.Dewey được ví như Socrat, Plato và Arixtote trong triết học Hy Lạp cổ đại.
Sự phát triển về sau của chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ đã được G.H. Mead và C.I. Lewis. G.H. Mead phát triển. Với tư cách là người đứng đầu trường phái Chicago ở Mỹ, với  lý  thuyết về hành vi xã hội, G.H. Mead đã có đóng góp rất lớn về mặt lý luận cho chủ nghĩa thực dụng. Còn C.I. Lewis là ng ười có ý tưởng kết hợp chủ nghĩa thực dụng với chủ nghĩa thực chứng lôgíc.
Kể  từ  sau  chiến  tranh  thế giới  thứ hai,  trên diễn đàn  triết học, chủ nghĩa  thực dụng ở Mỹ có phần  lắng xuống dành ưu  thế cho một số  trào  lưu  triết học xuất phát từ Âu  châu  như  chủ nghĩa  kinh  nghiệm  lôgíc,  triết  học  phân  tích,  hiện  tượng  học,  chủ nghĩa hiện sinh,... Sự xuất hiện của các  trường phái  triết học đó đã góp  thêm vào kho tàng triết học nước Mỹ, làm cho triết học Mỹ thêm phần đa dạng và phong phú.
Trong số các trào lưu triết học thống trị ở Mỹ thời bấy giờ, triết học phân tích được đánh giá cao hơn cả. Đặc trưng lớn nhất của dòng triết học này là phân tích ngôn ngữ, nó đặt trọng tâm vào giao tiếp ngôn ngữ thường ngày, kể cả ngôn ngữ trong khoa học và  triết học. Khuynh hướng cơ bản của dòng  triết học này gắn với chủ nghĩa  thực chứng mới nên có khoảng cách không xa với chủ nghĩa thực dụng. Tinh thần chung của loại triết học này là bài xích quan điểm triết học và khoa học cho rằng triết học có đối tượng độc lập, từ đó quan niệm thế giới quan không nằm trong nội dung triết học, triết học không phải là một sự phân biệt quá lớn. Ở Mỹ, triết học phân tích được thể hiện chủ yếu  qua  Canap  và Goodman. Và  tại  đây,  nó  được  biến  tướng  thành  chủ  nghĩa  kinh nghiệm  lôgíc (Logical empiricism) v ới hai  cách hiểu: Thực  chứng  luận  lôgíc và  thực chứng  luận mới. Tuy nhiên,  triết học phân  tích  theo H.Putman (nhà  triết học Mỹ ngày nay đang nổ lực khôi phục chủ nghĩa thực dụng về mặt khoa học, lý luận) “đã thực hiện được  nhiều  điều  lớn,  nhưng  cuối  cùng  đều  tiêu  cực  cả”. R.Rorty  cũng  đồng  cảm  với Putman cho r ằng: “ Triết học phân  tích” cuối cùng đã đương đầu với những khó khăn khiến cho nó có lúc phải nhớ lại chủ nghĩa thực dụng. Hai hậu duệ thực dụng này cũng cho rằng, không thể đi vòng sự cản trở của ngôn ngữ, do đó triết học không thể có vai trò phán xét nh ững khoa học và đạo đức trên danh nghĩa những nhận thức đặc biệt của triết học đối với cơ sở của những khoa học và đạo đức. 
Nói chủ nghĩa thực dụng suy tàn ở mảnh đất mà nó được sinh ra là không đúng vì thực  tế,  dù  nó  không  còn  là  tâm  điểm  để  luận  bàn  trên  lĩnh  vực  học  thuật,  nhưng những nguyên  tắc  cơ bản,  chủ  chốt  của nó đã  trở  thành  tiêu  chuẩn  suy  nghĩ và hành động của người Mỹ. Vị trí của chủ nghĩa thực dụng khắc sâu vào tâm kh ảm con người, xã hội Mỹ. Những  luồng  triết học châu Âu ảnh hưởng vào  triết học Mỹ chỉ được ghi nhận về mặt học  thuật đơn  thuần. Còn về  tác dụng  thực  tế cho đời sống Mỹ  thì chẳng đáng là bao. Morri kh ẳng định rằng: chủ nghĩa lôgíc, triết học  phân tích ngôn ngữ, hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh  là “hiệp đồng nhất  trí về  tính chất” với chủ nghĩa  thực dụng. “Mỗi vấn đề mà họ nhấn mạnh, thực ra đều được chủ nghĩa thực dụng coi là một vấn đề trung tâm trong cả hệ thống” [3].
Từ khoảng cuối thế kỷ XX trở lại đây, một số trào lưu triết học xuất phát từ châu Âu có mặt ở Mỹ đã bộc  lộ nhiều mâu  thuẫn về mặt  lý  luận  (đặc biệt  là  triết học phân tích). Cho nên, ở Mỹ đã dấy lên phong trào phục hồi chủ nghĩa thực dụng, tập trung vào một  số đại biểu  lớn như đã nói ở  trên  (H. Putman và R. Rorty và W.Quine).  Khuynh hướng quay về với chủ nghĩa thực dụng được xem là sự “trở về với chính mình” và tạo nên nét đặc  trưng của văn hoá Mỹ. Jean Pierre Ficho  trong cuốn “Văn hoá Mỹ” cho rằng chủ nghĩa thực dụng là một trong tám tư tưởng chủ đạo của nền văn minh Mỹ.  Chủ nghĩa thực dụng phủ nhận những giá trị, những hệ thống tư tưởng và lý luận đã có từ trước, mà chỉ thừa nhận những giá  trị kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Thái độ đó được người Mỹ  tôn vinh và minh ho ạ bằng mộ t cụm  từ “thanh niên  tính”. Có nhà nghiên cứu về văn hóa Mỹ cho rằng: “cái gắn bó người Mỹ với nhau là quyền lợi chứ không phải là tư tưởng”.
W.  James quan ni ệm  thế  giới  như một  đấu  trường  giữa  thiện  và  ác  đúng  như quan niệm của Thanh giáo, nó gần như  trở  thành chủ nghĩa cơ giới, phân biệt rạch ròi đến mức cực đoan giữa cái tốt và cái xấu. Trong khuôn khổ giữa thiện và ác, con người phải  đối  kháng  với  nhau  để  tìm  đến một  con  đường  riêng  cho mình  để  tích  luỹ  kinh nghệm và chính những kinh nghiệm đó đã góp phần  tạo dựng nên một hình ảnh nước Mỹ phồn thịnh và tự do.   J.Dewey chỉ ra phương cách giáo dục  là: muốn hiểu biết được  thì phải  tự mình làm lấy, chỉ chấp nhận  lĩnh hội  tri  thức sau khi đã  thảo  luận và phân  tích. Chủ  trương này rất thích hợp với nghiên cứu  khoa học  thí nghiệm công nghiệp. Tư tưởng này đã được người Mỹ và cả phương Tây áp dụng một cách triệt để bởi vì nó tạo ra tính độc lập của tư duy, tích cực tự do sáng tạo và tôn trọng chủ nghĩa cá nhân. 
Những  tư  tưởng  như  vậy  của  chủ  nghĩa  thực  dụng  phù h ợp  với  quỹ  đạo  của Thanh giáo và được Jefeer lĩnh hội vận dụng, định hướng phát triển xã hội Mỹ. Ông cho rằng, con người có xu hướng tốt chỉ cần tạo ra thể chất tốt, để tự do cho cá nhân hành động. Do đó, ở Mỹ, nghị  lực của cá nhân  luôn được đề cao, ý chí trở  thành bạn đồng hành với chủ nghĩa  thực dụng. Khi  lấy kinh nghiệm và những nổ  lực cá nhân  làm nền tảng, coi trọng yếu tố ngẫu nhiên nên người Mỹ đã chấp nhận một phương thức sống đa nguyên và một thể chế chính trị dân chủ đa đảng.
2.2. Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến phương Tây và Việt Nam
Ở phương Tây, vào đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dụng đã xuất hiện với tư cách là một  trào  lưu  triết học mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống cộng đồng. Ở Anh có C.Schiller, ở Italia có G. Vailati, M. Calderom, G. Papinni, ở Đức, Pháp, Áo chủ nghĩa thực dụng không ảnh hưởng  trực  tiếp mà  thông qua một số  trường phái như chủ nghĩa Kant mới và thông qua đó các quan điểm của chủ nghĩa thực dụng được phát huy.
Chủ nghĩa thực dụng khi ảnh hưởng đến Âu châu nó không sâu đậm như ở Mỹ. Nó được xem như là một lý thuyết, một công cụ có tính ứng dụng tốt nhất cho đời sống hiện tại. Song càng về sau, khi hiểu được những giá trị đích thực của nó thì người châu Âu lại coi  trọng, đặt nó ngôi vị cao quý, được xem  là bạn đồng hành, không thể  thiếu trong cuộc  sống. Trên  thực  tế, chủ nghĩa  thực dụng đã đáp ứng được khát vọng, ham muốn tự do, được sáng tạo và coi trọng thành quả sáng tạo, đề cao nhân cách cá nhân. Đối với chủ nghĩa thực dụng, chân lý được đồng nhất với tính hiệu quả. 
Đặc điểm cơ bản nhất phân biệt chủ nghĩa  thực dụng với các  trường phái  triết học phương Tây khác là nó nhấn mạnh khoa học phải dựa trên đời sống hiện thực, chủ trương lấy niềm tin làm điểm xuất phát, hành động là biện pháp chủ yếu, lấy “hiệu quả” làm mục đích   tối  cao. Chẳng hạn Charles Moriss quan niệm, đối với người  theo  chủ nghĩa thực dụng, hành vi của loài người khẳng định là luận đề được quan tâm nhất của họ (tức chủ nghĩa thực dụng) và tuyên bố: “Triết học là triết học thực tiễn, hành động”. Chính vì v ậy,  nó từng được xem  là  lý  luận điển hình cho  thế giới quan vị kỷ và chủ nghĩa cá nhân tư sản. Chính vì thế, chủ nghĩa thực dụng có quan hệ mật thiết với thể chế kinh tế  thị  trường  tư bản chủ nghĩa  theo đuổi mục đích  tư  lợi. Lý  luận của chủ nghĩa thực dụng về cuộc sống, về niềm tin, về hành động rất dễ bị lợi dụng để luận chứng cho tư tưởng cá nhân tư sản. Do vậy, nó khiến cho hậu thế dễ có cảm giác rằng, chủ nghĩa thực dụng mang màu sắc “triết học con buôn”.
Sự đánh giá về chủ nghĩa thực dụng như vậy, theo chúng tôi là chưa toàn diện. Vì rằng, triết học thực dụng thể hiện khá nhiều nhân tố tinh thần của thời đại, luận chứng cho phương pháp luận và luận chứng khoa học, đề cập các vấn đề hiện thực cả về mặt đạo đức trong cơ chế thị trường. Cách đánh giá như thế, thiết nghĩ có nhiều mặt hợp lý.
Tuy nhiên, các đánh giá như v ậy đều chứa đựng những mặt hạn chế nhất định của nó. Về mặt hiệu quả thì nó là một lý thuyết khoa học, song, về tính mục đích thì nó dễ dẫn đến việc  tạo nên nền  tảng cho những quan niệm hình  thành nên các chính sách nhằm bảo vệ lợi ích riêng cho quốc gia, dân tộc. Điều này phải chăng là cơ sở cho chính sách hiếu chiến cho một bộ phận những nhà cầm quyền nhằm thực hiện mục đích chính trị riêng của mình. 
Chủ  nghĩa  thực  dụng  du  nhập  vào mi ền Nam Việt Nam  theo  bước  chân  xâm lược của đạo quân viễn chinh Mỹ trong những năm 60 – 70 của thế kỷ XX. Bằng nhiều con đường, chủ nghĩa thực dụng đã trở thành một trong những trào lưu tư tưởng mới và được đón nhận như là một lý tưởng sống của một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là thanh niên thời bấy giờ. Tuy nhiên, để hiểu được bản chất của chủ nghĩa thực dụng thì quả là không giản đơn với một dân tộc mà nền văn hóa truyền thống có ảnh hưởng rất lớn từ Nho - Phật – Lão. Lối sống gấp, lối sống hưởng thụ của một bộ phận dân cư đã bóp méo ý ngh ĩa chân chính của chủ nghĩa thực dụng. Chủ nghĩa thực dụng được xem là triết học của người Mỹ,  là niềm  tự hào của nước Mỹ nhưng khi du nhập vào miền Nam Việt Nam cùng chủ nghĩa  thực dân kiểu mới và sự hà khắc của chính quyền  tay sai,  trào  lưu  tư  tư ởng  này  đã  bị  biến  thể  thành  thứ  thực  dụng  tầm  thường. Các  ý  đồ chính trị đen tối cùng sự tham lam vô độ, muốn thu vén cho mình mọi thứ của giới cầm quyền hay như lối sống gấp, chà đạp lên các quan hệ đạo đức, luân lý, giá trị nhân văn truyền thống, đánh mất danh dự nhân phẩm của một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là t ầng  lớp  thanh  thiếu niên đã  làm  cho  chủ nghĩa  thực dụng  trở  thành hệ  ý  thức phi nhân tính, phản nhân văn đối với truyền thống đạo lý của người Việt.
3. Kết luận
Với  tư cách  là một trào lưu triết học, một khoa học  -  triết học, chủ nghĩa  thực dụng không phải được hiểu như là một trào lưu triết học phi nhân văn như một số người đã lầm tưởng. Khách quan mà nói, chừng nào hoạt động thực tiễn, sản xuất vật chất xã hội của con người còn lấy hiệu quả làm thước đo thì chừng đó chủ nghĩa thực dụng còn có ý ngh ĩ a và giá  trị khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu chủ nghĩa  thực dụng Mỹ không chỉ dừng  lại ở hiệu quả cá nhân mà phải hướng đến hiệu quả  toàn xã hội, có như vậy mới xác lập đầy đủ tính nhân văn, nhân bản của một học thuyết triết học.    
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay việc hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành tất yếu khách quan  thì vấn đề hội nhập văn hoá  là  tất yếu cho sự  tồn  tại và phát  triển của mỗi quốc gia dân tộc. Vấn đề tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại nhằm làm sâu sắc hơn các giá  trị văn hoá  truyền  thống của dân tộc  luôn là một đòi hỏi cấp  thiết trong giai đoạn hiện nay. Vì  thế, việc nghiên cứu những giá  trị của các hệ  thống  triết học  ngoài mácxít, trong  đó  có  chủ  nghĩa  thực  dụng Mỹ  sẽ  góp  phần  tạo  nên tiền  đề vững chắc để phát huy các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc./.
Nguồn: T/c Khoa học - Đại học Đà Nẵng, 28 - 2008