Thứ Bảy, ngày 26 tháng 5 năm 2012

37. NATO và những thách thức về an ninh đang nổi lên - vượt ra ngoài mô hình ren đe

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Chủ nhật, ngày 13/5/2012
(American Foreign Policy Interests)
Những thách thức về an ninh mới, từ các cuộc tấn công mang đến những nhà nước yếu kém không thể bị ngăn chặn bởi mối đe dọa về sự trả đũa bằng quân sự, cũng như các hoạt động quân sự sẽ không phải là sự đáp trả thích hợp trong hầu hết các trường hợp. Thay vào đó, cần phải nhấn mạnh vào sự phòng ngừa tăng cường sức bền. Nếu Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) muốn đóng một vai trò có ý nghĩa trong việc giải quyết những thách thức như vậy tổ chức này sẽ phải phát triển một sự hiểu biết rõ ràng hơn về bản chất của những thách thức này, xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các quốc gia và các thể chế khác, và tìm kiếm những sự cộng tác với khu vực tư nhân. Trên hết, các nước đồng minh sẽ phải sử dụng NATO như một diễn đàn để thảo luận về những thách thức về an ninh đang nổi lên và những ảnh hưởng của chúng.
Vào ngày 27/4/2007, Êxtônia đã trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công mạng lớn. Trong vòng 3 tuần, các máy chủ của Quốc hội, các bộ, các ngân hàng và phương tiện truyền thông đại chúng của một nước thành viên nhỏ khu vực Bantích của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) này đã bị phá vỡ hay bị làm tê liệt bởi một cuộc tấn công đã sử dụng các máy chủ ở hơn 100 quốc gia. 6 năm sau cuộc tấn công vào Niu Yoóc và Oasinhtơn, khi một nhóm những kẻ khủng bố được chỉ dẫn từ Ápganixtan đã tìm cách tiến hành một cuộc tấn công chiến lược nhằm vào cường quốc quân sự mạnh mẽ nhất của thế giới bằng việc sử dụng các biện pháp hoàn toàn phi quân sự, các chuyên gia mạng của NATO đã trải qua sự kiện “11/9” của chính họ.
Tuy nhiên, không giống như vào ngày 11/9/2001, các cuộc tấn công vào Êxtônia đã không dẫn đến sự viện dẫn điều khoản phòng thủ tập thể của Hiệp ước Oasinhtơn, cũng không có hoạt động quân sự nào chống lại những kẻ bị cho là thủ phạm. Mô hình Ápganixtan không phù hợp với một cuộc tấn công mạng nặc danh. Cả sự răn đe lẫn sự trả đũa không tỏ ra là những loại hình hữu ích. Chỉ còn lại một sự lựa chọn: trong tương lai, cơ sở hạ tầng điện tử của các nước đồng minh sẽ phải được củng cố tới mức những cuộc tấn công như vậy sẽ không gây ra quá nhiều thiệt hại.
Sự tăng lên đều đặn của những cuộc tấn công mạng trên khắp thế giới chứng tỏ rằng những gì đã xảy ra ở Êxtônia vào năm 2007 không phải là một sự kiện khác thường. Những cuộc tấn công mạng cũng không phải là thách thức an ninh duy nhất không thể được ngăn chặn bởi sự đe dọa trả đũa bằng quân sự. Chủ nghĩa khủng bố, các cuộc tấn công mạng, “những nhà nước thất bại”, Sự phổ biến các vũ khí hủy diệt hàng loạt, và sự dễ bị tổn hại ngày càng tăng của nguồn cung năng lượng và nguyên liệu thô, và các thảm họa nhân đạo là những diễn biến vượt ra bên ngoài mô hình răn đe. Các hoạt động quân sự cũng sẽ không được coi là sự đáp trả thích hợp trong hầu hết các hoàn cảnh. Câu trả lời thực sự đối với những thách thức phi truyền thống này vượt ra ngoài sự răn đe và trả đũa: chúng nằm ở sự phòng ngừa và tăng cường sức bền. Đối với NATO đang theo đuổi việc báo vệ an ninh của gần 900 triệu dân, điều này có nghĩa là một sự thay đổi đáng kể theo cách thức suy nghĩ và hành động của tổ chức này.
An ninh từ địa lý đến chức năng
Sự không thỏa đáng của một đường hướng bị động và dựa trên sự tra đũa đã được nhận ra kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh. Những đặc trưng của giai đoạn đó – một kẻ thù hữu hình đơn lẻ, các khả năng quân sự cân xứng thời gian cảnh báo dài và, trên hết, giả định rằng các đối thủ sẽ được dẫn dắt bởi một tính toán quan hệ lỗ-lãi hợp lý – đã khiến sự răn đe hạt nhân trở thành phương tiện thích hợp (và khả thi) để ngăn chặn chiến tranh. Những đặc điểm này từ lâu đã không còn nữa. Những nỗ lực ban đầu không thành công của NATO sử dụng ảnh hưởng tiết chế đối với các cuộc xung đột do sự tan rã của Nam Tư vào đầu những năm 1990 là một sự nhắc nhở mạnh mẽ về việc cần thiết phải có một đường hướng khác. Một chính sách mà trong 40 năm đã xoay quanh sự phô trương sức mạnh đã không mang lại bất cứ lựa chọn hữu ích nào trong một cuộc xung đột giữa các bên thứ ba. Các cuộc xung đột ở các nước Tây Bancăng có thể chỉ được ngăn chặn bằng sự can thiệp quân sự.
Sự can dự quân sự của NATO ở Tây Bancăng, mà đã giúp chấm dứt các cuộc xung đột ở khu vực này và đã mang lại một môi trường an toàn cho sự khởi đầu mới, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự thay đổi hướng tới một đường hướng tích cực hơn. Do đặc trưng mới của nhiệm vụ dành cho NATO này và những ảnh hưởng tiềm tàng của nó đối với châu Âu nói chung và vai trò trong tương lai của Liên minh này nói riêng, quyết định trở nên can dự đã chỉ đến sau các cuộc tranh luận kéo đài và đau đớn giữa các nước đồng minh. Tuy nhiên, quyết định can thiệp vào Ápganixtan sau các cuộc tấn công khủng bố “11/9” được thực hiện gần như ngay lập tức, mà không có các cuộc tranh luận kéo dài. “Hội chứng ngoài khu vực” đã ngăn cản NATO dự tính hành động quân sự bên ngoài khu vực Hiệp ước NATO cuối cùng đã mất đi.
Tuy nhiên, ngay cả sự thay đổi hậu “11/9” từ sự lý giải về an ninh mang tính địa lý sang mang tính chức năng sẽ không đủ để NATO đương đầu với các thách thức của đầu thế kỷ 21. Một mặt, nhiều vấn đề của sứ mệnh Apganixtan để lộ rằng cái giá cao của những sự can dự lớn về mặt quân sự sẽ phải trả chỉ trong những hoàn cảnh nghiêm trọng nhất. Mặt khác, mối quan hệ giữa một hành động khủng bố cụ thể và một “nhà nước thất bại” hơn bao giờ hết khó có thể rõ ràng như so với trong trường hợp mối quan hệ giữa sự kiện “11/9” và Apganixtan. Do đó, trong khi sự sẵn sàng can thiệp về mặt quân sự mà không có những giới hạn về mặt địa lý là không thể thiếu được đối với bất cứ chính sách an ninh có ý nghĩa nào trong thời đại toàn cầu hóa, nó không đủ để giải quyết một loạt các nguy cơ và các mối đe dọa.
Môi trường an ninh đang, nổi lên
Nhìn vào môi trường an ninh đang nổi lên chứng minh sự khẳng định này. Theo một phân tích chủ đạo, những thập kỷ sắp tới sẽ chứng kiến sự suy giảm về chủ quyền nhà nước, sự chuyển giao quyền lực từ các nhà nước sang các mạng lưới quốc tế hay phi nhà nước, và sự tăng sức mạnh tàn phá của các bên tham gia phi nhà nước này. Một tiến triển quan trọng khác là việc tiếp tục dựa vào việc tạo ra năng lượng hạt nhân dân sự. Ngoài những thách thức về vấn đề an toàn về mặt kỹ thuật, việc sử dụng năng lượng hạt nhân có thể gây ra những nguy cơ đáng kể về phổ biến hạt nhân quân sự. Tối thiểu là nó sẽ dẫn đến việc tăng số nhà nước “thực sự” có vũ khí hạt nhân, khả năng chuyển hóa các chương trình hạt nhân dân sự của họ thành các chương trình hạt nhân quân sự trong một thời gian ngắn. Như Khái niệm chiến lược 2010 của NATO lưu ý, “trong thập kỷ tới, sự phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ nghiêm trọng nhất ở một số khu vực bất ổn nhất của thế giới.
Một đặc trưng khác của môi trường an ninh đang nổi lên là hiện tượng các “nhà nước đang thất bại” đang tiếp diễn. Khi nhiều trong số những không gian không được cai trị này có thể trở thành nơi luyện tập cho các nhóm khủng bố hay nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ cướp biển, những kẻ buôn ma túy và buôn người, những ảnh hưởng an ninh của “sự thất bại” của các nhà nước này sẽ vượt ra ngoài nơi xuất phát của chúng. Những cuộc tấn công mạng, mà đã trở thành một hình thái mới của cuộc chiến tranh cấp thấp diễn ra thường xuyên, sẽ tăng hơn nữa về tần suất và độ tinh vi, chuyên từ việc làm gián đoạn các dịch vụ đến việc phá hủy hoàn toàn phần cứng. An ninh năng lượng cũng sẽ trở thành một mối lo ngại ngày càng tăng. Như Khái niệm an ninh đề cập đến vấn đề này, “một số nước thuộc NATO sẽ trở nên phụ thuộc hơn vào các nguồn cung năng lượng từ nước ngoài và trong một số trường hợp, vào các mạng lưới cung cấp và phân phối năng lượng từ nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu năng lượng của họ. Khi một phần tiêu thụ lớn hơn của thế giới được vận chuyển trên khắp toàn cầu, các nguồn cung năng lượng đang ngày càng dễ bị phá vỡ”.
Những tiến triển này có thể bị trầm trọng thêm bởi những sự thay đổi về chính trị và môi trường khác. Một sự thay đổi như vậy là sự nổi lên của các bên tham gia toàn cầu mới, thường không muốn tham gia theo các quy tắc mà họ xem là phần lớn được phát triển bởi – và phục vụ các lợi ích của – phương Tây. Một sự thay đổi khác có thể là sự thay đổi khí hậu, không chỉ dẫn đến việc tăng các thảm họa thiên nhiên mà còn làm nảy sinh các thách thức khác từ an toàn lương thực đến các đại dịch.
Hướng tới sự phòng ngừa và sức bền
Trong khi bức tranh này còn lâu mới được hoàn thành, nó chứng tỏ tại sao đường hướng dựa trên sự răn đe sẽ là không đủ nếu NATO muốn đóng một vai trò đầy ý nghĩa trong môi trường an ninh mới này. Chẳng hạn, các cuộc tấn công khủng bố ở đường xe điện ngầm hay trên máy bay không thể được ngăn chặn bằng sự đe dọa trả đũa về mặt quân sự mà chỉ bằng sự hợp tác của cảnh sát và cơ quan tình báo. Vì thế kịch bản được thảo luận thường xuyên về “bom bẩn” của bọn khủng bố gây ra sự hoảng sợ bằng việc phát tán vật liệu kích hoạt phóng xạ cũng vượt ra ngoài lôgích cổ điển về sự răn đe. Ngược lại, thực tế là kể từ sự kiện “11/9” nhiều vụ tấn công khủng bố đã bị dẹp tan bởi sự hợp tác của cảnh sát và cơ quan tình báo nhấn mạnh khía cạnh ngăn ngừa của chính sách an ninh hiện nay. Các công nghệ mới sẽ giúp phát hiện các thiết bị phát nổ hay lần ra nguồn gốc của chúng do đó sẽ co ý nghĩa quan trọng. Điều tương tự cũng áp dụng cho các biện pháp hạn chế thiệt hại sau một cuộc tấn công khủng bố thành công. Một lần nữa, mô hình răn đe và trả đũa cổ điển không áp dụng được, cũng như các hoạt động quân sự sẽ không tạo thành sự đáp trả thích hợp.
Lôgích tương tự áp dụng cho các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng trọng yếu. Dù đó là các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào các đường ống dẫn dầu hay các cuộc tấn công mạng nhằm vào các mạng lưới của các cường quốc: sự răn đe bằng đe dọa trả đũa quân sự cũng không thích hợp như hoạt động quân sự chống lại những kẻ thủ phạm (phần lớn là nặc danh). Như với phòng thủ mạng, chìa khóa đối với an ninh nằm ở sức bền của bản thân cơ sở hạ tầng: những dư thừa khiến cho có thể đảm bảo lưu lượng dầu khí không bị gián đoạn, sự sửa chữa nhanh chóng những đường ống dẫn bị hư hại có thể duy trì thiệt hại trong những giới hạn có thể chấp nhận được, và các hệ thống điện tử ở các trung tâm kiểm soát phải được thiết kế theo một cách như vậy để “vượt qua” ngay cả một đòn tấn công mạng phức tạp.
Nguyên tắc hạn chế thiệt hại cũng đang có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Khi sự toàn cầu hóa mở ra các khả năng mới cho sự chuyển giao tri thức và công nghệ, số nhà nước có các vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học có thể tăng lên. Việc này có thể dẫn đến một nhóm các mối quan hệ răn đe, mà hầu như không có điểm tương đồng với tình thế đối đầu hạt nhân lưỡng cực của Chiến tranh Lạnh. Lôgích răn đe bằng sự đe dọa trừng phạt sẽ vẫn là không thể thiếu được đối với kể cả sự kiềm chế về quân sự trong các nước, là lí do tại sao NATO tuyên bố rằng tổ chức này sẽ vẫn là một liên minh hạt nhân chừng nào các vũ khí hạt nhân vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, một hệ thống răn đe có đặc trưng là nhiều cổ đông sẽ yếu hơn, do việc thiếu tính minh bạch và tính có thể dự đoán được sẽ khiến một hệ thống như vậy có xu hướng thất bại về mặt kỹ thuật và tính toán sai lầm về mặt chính trị hơn. Một lần nữa cần phải tăng cường tập trung vào phòng ngừa và sức bền: phòng ngừa thông qua một chính sách không phổ biến hạt nhân tích cực, những sự kiểm soát và những sự trừng phạt xuất khẩu; sức bền thông qua các biện pháp phòng thủ mới chẳng hạn như việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa rộng khắp NATO.
Ví dụ mới nhất về sự chuyển đổi mô hình là các hoạt động cứu trợ nhân đạo. Cho đến nay điều đã trở thành một sự nhất trí chung là sự thay đổi khí hậu là một thực trạng, rằng nó là không thể thay đổi được, và rằng nó sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng về an ninh. Trong khi sự thay đổi khí hậu là một hiện tượng toàn cầu, thì những hậu quả khốc liệt nhất của nó sẽ đặc biệt được nhận thấy ở các khu vực đang ở thế bất lợi và do đó không có các biện pháp để tự bảo vệ mình. Kết quả có thể dự đoán được về những sự tiến triển này sẽ là một sự gia tăng các thảm họa tự nhiên, những tình trạng khẩn cấp dân sự, và do đó tăng các hoạt động cứu trợ nhân đạo. Do quân đội được trang bị tốt nhất cho những nhiệm vụ này, nó sẽ thường được sử dụng như “sự đáp trả đầu tiên” trong những trường hợp khẩn cấp như vậy. Tuy nhiên, việc sử dụng quân đội trong các hoạt động như vậy không có điểm tương đồng nào với chiến tranh truyền thống, khi mục đích không phải là nhằm buộc đối thủ phải nghe theo ý muốn chính trị của mình mà nhằm đảm bảo rằng sự cứu trợ đến được với các nạn nhân. Nói một cách khác, vấn đề khẩn cấp hiện nay không phải là làm thế nào để ngăn chặn một mối đe dọa mà là làm thế nào để giảm thiểu những hậu quả tiêu cực của các sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của con người.
Chương trình nghị sự hợp lý của NATO
Với tư cách là một liên minh tìm kiếm việc bảo vệ an ninh và phúc lợi của gần 900 triệu dân từ 28 quốc gia, điều không thể thiếu được là NATO chỉnh sửa lại các chính sách của mình cho phù hợp với sự thay đổi mô hình đang diễn ra. Việc này cần phải không bị hiểu sai là một sự rời xa khỏi các hoạt động như ở Côxôvô, Ápganixtan hay Libi: các hoạt động quân sự chung có thể vẫn là công việc cốt lõi của NATO, khi đây là một lĩnh vực mà liên minh này đem lại các giá trị gia tăng đáng kể nhất của mình. Tuy nhiên, quy mô của sự phòng ngừa và sức bền sẽ phải có vị trí nổi trội hơn nhiều trong chương trình nghị sự chính trị và quân sự của NATO. Một chương trình nghị sự như vậy phải được xây dựng quanh một vài yếu tố then chốt.
Thứ nhất, NATO cần phải phát triển các chính sách chặt chẽ để xác định vai trò của mình trong việc giải quyết những thách thức an ninh đang nổi lên đã được đề cập ở trên. NATO đã và đang giải quyết một loạt mối đe dọa đang nổi lên trong một thời gian, tuy nhiên tổ chức này đã thực hiện việc đó theo cách được phân chia từng phần, mà không có một sự hướng dẫn rõ ràng về mặt chính trị hay một nền tảng khái niệm triệt để. Tuy nhiên, Khái niệm chiến lược 2010, làm nổi bật đáng kể các thách thức đang nổi lên, đánh dấu một sự thay đổi, khi nó đem lại cho NATO một sự ủy quyền sâu rộng để giải quyết các thách thức này theo một cách có hệ thống hơn. Hơn nữa, việc lập ra Đơn vị ứng phó thách thức an ninh đang nổi lên trong Ban tham mưu quốc tế của NATO sẽ tạo thuận lợi cho việc phát triển và thực hiện chính sách chặt chẽ hơn ở những lĩnh vực này. Kết quả đầu tiên của những tiến triển này là một thỏa thuận về Chính sách phòng thủ mạng của NATO, mà nhằm mục đích đưa ra các tiêu chuẩn trên toàn NATO bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mạng, và hòa nhập vấn đề phòng thủ mạng vào quá trình lên kế hoạch phòng thủ của NATO. Một dấu hiệu khác cho thấy một chính sách NATO chặt chẽ hơn về các thách thức an ninh đang nổi lên là quyết định xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa rộng khắp liên minh này, tốt nhất là phối hợp với Nga.
Những nước này hiện nay cần phải được phản chiếu trong các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, các biện pháp chống khủng bố đang diễn ra, như các cuộc tuần tra hải quân ở Địa Trung Hải hay việc phát triển các thiết bị cảm biến để phát hiện những kẻ đánh bom tự sát ở các đường xe điện ngầm, lý tưởng là cần phải được gắn vào chính sách chống khủng bố toàn diện của NATO. Đường hướng của NATO đối với an ninh năng lượng, mà hiện nay chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ các cơ sở hạ tầng quan trọng, có thể dần được mở rộng, chẳng hạn bằng việc sử dụng nhiều hơn các cơ sở huấn luyện và đào tạo của NATO và bằng việc đặc biệt tập trung vào việc tăng cường hiệu quả nhiên liệu trong các hoạt động quân sự. về an ninh môi trường, cần phải có một mạng lưới hoạt động có hệ thống hơn với cộng đồng khoa học để xác định các xu hướng công nghệ và khoa học.
Thứ hai, NATO cần phải có mối liên hệ tốt đẹp hơn với cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn. Việc này đúng với không chỉ các mối quan hệ của tổ chức này với các cổ đông an ninh khác như Liên minh châu Âu, Liên hợp quốc hay nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO), mà còn đối với các mối quan hệ với các nước khác, đáng chú ý là các đối tác từ trên khắp toàn cầu, từ Ôxtrâylia đến Nhật Bản cho đến Hàn Quốc. Quan hệ đối tác của NATO với các nước khác có thể vẫn là một câu chuyện thành công, như đã được chứng minh bằng liên minh Lực lượng hỗ trợ an ninh quốc tế cũng như việc đưa cả các nước vùng Vịnh vào hoạt động ở Libi. Quả thực, bản chất của những thách thức an ninh ngày nay khiến sự thành công của NATO ngày càng phụ thuộc vào việc tổ chức này phối hợp tốt với các tổ chức khác như thế nào, dù là về gìn giữ hòa bình, phòng thủ mạng, không phổ biến hạt nhân, chống khủng bố hay an ninh năng lượng, Do đó, tăng cường “tính kết nối” của NATO (lời Tổng thư ký NATO Rasmussen) là điều kiện tiên quyết cho tương lai của tổ chức này với tư cách là một người mang lại an ninh đáng tin cậy. Vì lý do này, việc mở rộng những quan hệ đối tác của NATO sang cuối cùng thậm chí bao gồm cả các mối quan hệ với Trung Quốc và Ấn Độ vừa hợp lôgích vừa khả thi. Hơn nữa, khi các thể chế khác dần chấp nhận NATO là một đối tác trong những tình huống bất ngờ nhất định, thì có thêm không gian cho sự tiến bộ hơn nữa.
Tiến bộ này cuối cùng cũng cần mở rộng sang mối quan hệ NATO-EU, mà có thể là quan trọng nhất, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn không ổn định và dở dang. Trong khi những sự nhạy cảm quốc gia nhất định của các nước đồng minh trong NATO và các thành viên EU phải được tôn trọng, tính khẩn thiết phải có sự phối hợp và hợp tác chặt chẽ hơn giữa hai tổ chức này là lớn hơn bao giờ hết. Nhiều trong số những thách thức mới về bản chất là cả về nội tại lẫn bên ngoài. Chẳng hạn, chủ nghĩa khủng bố có thể phát triển từ trong nước hoặc được du nhập vào, trong khi việc bảo vệ các cơ sở hạ tầng mạng và năng lượng về cơ bản là trách nhiệm quốc gia. Việc này đặt ra những thách thức phối hợp hoàn toàn mới cho tất cả các bên tham gia có liên quan. Mối quan hệ hợp tác NATO-EU mạnh mẽ hơn sẽ là một bước lớn hướng tới việc vượt qua những thách thức như vậy.
Một phần khác của một NATO có liên kết tốt hơn là mối quan hệ lâu bền với khu vực tư nhân. Đúng như sự khẩn thiết phải tăng cường các khả năng phòng thủ mạng của NATO sẽ dẫn đến các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các công ty phần mềm, sự cần thiết phải phát triển một đường hướng chặt chẽ về an ninh năng lượng sẽ đòi hỏi NATO phải chìa tay ra với các công ty năng lượng tư nhân. Việc tạo ra các mối quan hệ mới như vậy sẽ gây thách thức, do những lợi ích kinh doanh của quốc gia và các lợi ích an ninh chung đôi khi có thể tỏ ra là không thể hòa hợp với nhau. Tuy nhiên, bản chất của nhiều thách thức an ninh đang nổi lên khiến cho việc phân chia trách nhiệm đã được thiết lập giữa các khu vực công cộng và tư nhân ngày càng tỏ ra lỗi thời.
Thứ ba và cuối cùng, các nước đồng minh phải sử dụng NATO như một diễn đàn đối thoại chính trị lâu dài về những tiến triển an ninh rộng lớn hơn. Trong khi NATO đang can dự trên một vài lục địa, “khuynh hướng chung” của tổ chức này phần lớn vẫn là lấy châu Âu làm trọng tâm và mang tính phản ứng lại. Do đó, nhiều nước thành viên NATO chỉ tiếp cận các cuộc thảo luận về các vấn đề an ninh tiềm tàng trong tương lai một cách do dự, quan ngại rằng hình ảnh NATO với tư cách là một liên minh do các hoạt động thúc đẩy sẽ tạo ra ấn tượng rằng bất cứ cuộc tranh luận nào như vậy chỉ là điềm báo trước cho sự can dự quân sự. Trong khi những nhận thức sai lầm như vậy có thể không bao giờ bị loại bỏ, thì các nước đồng minh cần phải chống lại việc làm cho bản thân họ thành những con tin của nguy cơ về một vài tin tức báo chí thất thiệt về cái gọi là những ý định quân sự xấu của NATO. Quả thực, nguy cơ thực sự đối với NATO nằm ở hướng ngược lại: bằng việc từ chối nhìn về phía trước và tranh luận về những sự lựa chọn chính trị và quân sự trong việc đối phó với các thách thức đang nổi lên, các nước đồng minh tự bắt mình phải chịu một đường hướng hoàn toàn mang tính phản ứng lại, do đó bỏ mất những cơ hội cho một chính sách ủng hộ hành động.
Một văn hóa tranh luận như vậy là cái hoàn toàn quan trọng hơn khi nhiều thách thức an ninh mới không ảnh hưởng đến tất cả các nước đồng minh theo cách hoàn toàn như nhau. Một cuộc tấn công khủng bố hay một cuộc tấn công mạng nhằm vào chỉ một nước đồng minh sẽ không nhất thiết tạo ra nhận thức chung về sự vi phạm đạo đức và sự đoàn kết chính trị mà người ta có thế chứng kiến sau sự kiện “11/9”, Do đó, khó có thể tạo ra sự đoàn kết chính trị và những sự đáp trả chung hơn rất nhiều so với trong quá khứ. Phải thừa nhận rằng việc này không phải là định mệnh. Nó đơn giản là sự nhắc nhở rằng các mối đe dọa mới có thể gây chia rẽ thay vì thống nhất nếu các nước đồng minh không có một nỗ lực mang tính quyết định cùng giải quyết chúng. Trong một lưu ý tích cực, có một số dấu hiệu cho thấy rằng sự thay đổi văn hóa này trong NATO cuối cùng đã bắt đầu, khi các nước đồng minh trở nên sẵn sàng hơn để thảo luận về các vấn đề gây tranh cãi tiềm tàng một cách có suy nghĩ. Sự phát triển đáng hoan nghênh này hiện nay phải được duy trì bằng việc tăng cường các khả năng phân tích của NATO, bao gồm việc cải thiện chia sẻ các tin tức tình báo và dự báo tầm xa hơn. Qua thời gian, những sự phát triển này cần phải dẫn đến một sự thay đổi trong “văn hóa” của NATO hướng tới việc trở thành một tố chức hướng về phía trước hơn.
Kết luận: áp dụng “quy tắc Noah”
Sự thay đối mô hình rời khỏi sự răn đe hướng và hướng tới sự phòng ngừa và sức bật tạo ra một thách thức lớn cả đối với cá nhân các nước cũng như đối với các liên minh. Sẽ khó có thể giải thích cho những người dân đã trở nên quen với tình trạng an ninh gần như hoàn hảo về một chính sách an ninh chấp nhận rằng không thể ngăn chặn những mối đe dọa nhất định bằng sự răn đe và do vậy một số thiệt hại tất yếu sẽ xảy ra. Do đó, một chính sách như vậy sẽ bị công kích là mang tính định mệnh hay phao tin đồn nhảm, trong khi những người khác sẽ hiểu nó như là một cái cớ của các chính phủ để bí mật theo dõi người dân của mình, hay đơn giản là sự bào chữa cho việc gia tăng ngân sách quốc phòng. Tuy nhiên, các chính phủ của các xã hội công nghiệp hiện đại không có lựa chọn nào ngoài việc thừa nhận với người dân của mình rằng trong một thời đại được ghi dấu bởi sự thay đổi khí hậu, sự phổ biến vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa khủng bố và sự khan hiếm các nguồn tài nguyên không một nước cá nhân nào lẫn một liên minh nào đó có thể vẫn mang lại sự bảo vệ gần như hoàn hảo. Đồng thời, các chính phủ phải vận động cho những hình thái bảo vệ và giải quyết hậu quả mới, tuy nhiên không tạo ra một không khí lo sợ và bất ổn.
Tất cả những việc này rốt cuộc là một sự thất vọng lớn. Tuy nhiên, không hành động cuối cùng sẽ còn tốn kém hơn. Không một ai bày tỏ vấn đề này tốt hơn một trong những người giàu nhất thế giới, Warren Buffett. Nhà đầu tư người Mỹ nổi tiếng này từ lâu đã suy nghĩ về câu hỏi những thảm họa lớn tác động như thế nào đến ngành kinh doanh bảo hiểm, Nhưng ông đã không biến những suy nghĩ của ông thành hành động cụ thể. Trong một bức thư của ông gửi đến các cổ đông, được viết một vài tuần sau thảm kịch “11/9”, Buffett thừa nhận rằng ông đã vi phạm “Quy tắc Noah”: “việc dự báo mưa lũ không quan trọng bằng việc đóng tàu để vượt qua cơn lũ đó”./.