Thứ Hai, ngày 05 tháng 8 năm 2013

63. Trở ngại của NATO trong việc can dự vào châu Á-Thái Bình Dương

Mặc dù tìm cách tăng cường can dự vào các vấn đề an ninh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong những năm gần đây nhưng NATO vấp phải không ít trở ngại, trong đó đặc biệt là thách thức trong việc xử lý quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản.

Từ ngày 31/5-2/6, NATO cử một phái đoàn, dẫn đầu là Chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO, Tướng Bartels Knud, tham gia Đối thoại Shangri-La tại Xinhgapo. Tại cuộc đối thoại này, Tướng Bartels đã tiến hành thảo luận vấn đề an ninh khu vực với các đối tác của các nước châu Á, kể cả Tướng Shigeru Iwasaki, Tham mưu Trưởng Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản và Trung tướng Thích Kiến Quốc, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Việc NATO can dự vào khu vực diễn ra ở một thời điểm thuận lợi. Nhật Bản đã và đang nỗ lực vận động NATO tăng cường can dự ở châu Á để trở thành một đối trọng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Là một đối tác của NATO, Nhật Bản thường xuyên đóng góp hào phóng cho Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế tại Ápganixtan (ISAF). Cùng lúc đó, Trung Quốc dường như cũng ngày càng nhận thấy cần phải tham gia các hoạt động của NATO tại Ápganixtan, vì việc đóng góp của Bắc Kinh rất quan trọng cho sự ổn định biên giới của Trung Quốc. Tất nhiên Bắc Kinh vẫn cảnh giác và coi NATO là một công cụ sức mạnh của Mỹ và phản đối vai trò của NATO ở Đông Bắc Á.
Trong chuyến thăm Nhật Bản giữa tháng 4/2013, Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã ký một bản tuyên bố chính trị chung giữa Nhật Bản và NATO. Đây là lần đầu tiên NATO và Nhật Bản công bố một tài liệu và khẳng định chia sẻ những giá trị chung.
Thực tế, hàng chục năm qua Nhật Bản là một trong những "đối tác toàn cầu" của NATO. Nhật Bản đã hỗ trợ các chiến dịch quân sự của NATO ở khu vực Balkan, các hoạt động chống cướp biển ở Vịnh Aden và tái thiết Ápganixtan. Trong chuyến thăm Nhật Bản, Tổng Thư ký Rasmussen có các cuộc hội đàm với nhiều quan chức cấp cao của chính quyền và Quốc hội Nhật Bản như Bộ trưởng Ngoại giao Fumio Kishida, Bộ trưởng Quốc phòng Itsunori Onodera, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Katsuyuki Kawai và nhiều nghị sĩ khác về các vấn đề chủ yếu liên quan đến an ninh của Nhật Bản và khu vực. 
Chuyến thăm Tokyo của Tổng Thư ký Rasmussen không phải chuyến thăm chính thức đầu tiên giữa NATO và Nhật Bản. Đầu những năm 1990, hai bên bắt đầu các cuộc đối thoại chiến lược cấp cao tại Sở chỉ huy NATO ở Brussels của Bỉ và Tokyo, Nhật Bản. Cuộc đối thoại đã trở thành cầu nối và dẫn đến các chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng thư ký NATO Jaap de Hoop Scheffer vào tháng 4/2005 và tháng 12/2007. Ngược lại Thủ tướng Nhật Bản Abe đến thăm Brussel vào tháng 1/2007 để yêu cầu hai bên tăng cường hợp tác; Bộ trưởng Ngoại giao Takeaki Matsumoto cũng hội đàm với Tổng Thư ký Rasmussen tại Brussels tháng 5/2011. Hơn 3 năm qua, các quan chức Nhật Bản phối hợp với NATO để tổ chức chuyến thăm “có đi có lại” đến Nhật Bản của Tổng Thư ký Rasmussen và công bố một bản tuyên bố chính trị về hợp tác giữa hai bên. Nhật Bản hy vọng NATO có thể ủng hộ nước này về mặt chính trị trong các tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. Các quan chức Nhật Bản cũng kêu gọi NATO truyền đạt “tham vọng chiến lược” của liên minh với Trung Quốc rằng không loại trừ việc NATO có thể đứng về phía các nước đồng minh của Mỹ trong cuộc xung đột chống Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hơn 20 năm qua, Nhật Bản không ngừng đẩy mạnh quan hệ chính trị với NATO thông qua các khoản tài trợ đáng kể cho những chiến dịch của liên minh ở khu vực Balkan và sau đó tại Ápganixtan. Thậm chí sau khi Nhật Bản chịu 3 thảm họa lớn: động đất, sóng thần và hạt nhân, Tokyo tiếp tục cung cấp viện trợ tài chính cho Ápganixtan. Nhật Bản cũng đóng góp lực lượng cho ISAF, đóng góp cho các nỗ lực tái thiết và phát triển và thậm chí trở thành nhà đầu tư số một trong việc xây dựng mạng lưới giao thông ở Ápganixtan. Tháng 7/2012, Nhật Bản tổ chức hội nghị các nhà tài trợ quốc tế cho Ápganixtan tại Tokyo và Tokyo cam kết viện trợ 5 tỷ USD cho Ápganixtan trong 5 năm.
Đáng chú ý, NATO và Nhật Bản tổ chức nhiều cuộc thảo luận nội bộ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm. Nhưng một số nước thành viên châu Âu của NATO rất lo ngại tình hình an ninh dễ mất ổn định ở các khu vực xung quanh của họ nên không muốn liên minh mở rộng lực lượng quá mỏng. Ngoài ra, việc phi quân sự hóa của châu Âu khiến NATO khó có khả năng tăng cường sức mạnh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và hiện nay người châu Âu rất lo ngại chiến lược tái cân bằng của Mỹ sẽ ưu tiên các nguồn lực có giới hạn cho châu Á, từ đó NATO có thể phải gánh vác thêm vai trò bảo đảm an ninh ở các khu vực khác trên thế giới. 
Nhưng trở ngại chủ yếu của NATO tại châu Á vẫn là quan hệ NATO-Trung Quốc. NATO phát triển quan hệ với Trung Quốc sau Nhật Bản. Hai bên hoàn toàn không quan hệ với nhau trong Chiến tranh Lạnh và suốt thập niên 1990. Năm 1999, vụ đánh bom Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade của Nam Tư cũ gây nên sự phản đối chính thức và các cuộc biểu tình mang tính dân tộc chủ nghĩa chống NATO của Trung Quốc và Bắc Kinh coi NATO là kẻ thù không đội trời chung. Nhưng sau các cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 và việc NATO triển khai lực lượng tại Ápganixtan, Trung Quốc bắt đầu quan tâm đến liên minh. Vì Ápganixtan cũng là một mối lo ngại an ninh từ lâu của Trung Quốc. Năm 2002, lần đầu tiên Đại sứ Trung Quốc gặp Tổng Thư ký lúc đó là Tướng Robertson tại Brussels. Tiếp đó hai bên cũng tổ chức một số cuộc họp cấp cao, kể cả chuyến thăm Trung Quốc của Phó Tổng Thư ký NATO Bisogniero vào tháng 11/2009. Nhưng NATO và Trung Quốc không có các cuộc đối thoại chiến lược như NATO và Nhật Bản và đến nay chưa Tổng Thư ký NATO nào đến thăm Trung Quốc. NATO chia sẻ nhiều lợi ích an ninh quan trọng với Trung Quốc, kể cả sự ổn định của Ápganixtan và Trung Á cũng như cuộc chiến chống cướp biển và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Đặc biệt, NATO coi Trung Quốc là một nước đóng vai trò quan trọng ở Ápganixtan, mặc dù Bắc Kinh sau này mới nhận thấy tầm quan trọng của họ. Trung Quốc ủng hộ NATO tại Ápganixtan với tư cách của một Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tăng cường hiện diện kinh tế tại Ápganixtan thông qua các khoản viện trợ và đầu tư. Đến nay tổng số viện trợ của Trung Quốc cho Ápganixtan dự kiến đạt hơn 1 tỷ USD, chưa kể các khoản đầu tư thực tế của Trung Quốc liên quan đến các dự án khai thác tài nguyên, ví dụ năm 2007 một công ty Trung Quốc đã ký một thỏa thuận trị giá 3,7 tỷ USD với Chính phủ Ápganixtan nhằm phát triển mỏ đồng Anyak ở phía Nam thủ đô Kabul. Ápganixtan có chung biên giới và rất quan trọng đối với Trung Quốc, vì Bắc Kinh coi nước này như một hành lang vận chuyển hàng hóa và các đường ống dẫn dầu và khí đốt đến Trung Quốc từ khu vực Nam và Tây Á. Ngoài ra Trung Quốc cũng giúp NATO tổ chức huấn luyện một số lực lượng an ninh Ápganixtan. Rõ ràng NATO rất quan tâm duy trì quan hệ và hợp tác tốt với Trung Quốc. Do đó bất cứ mâu thuẫn nào với Trung Quốc có thể tác động bất lợi đến các hoạt động của NATO tại Ápganixtan và những nơi khác ở châu Á-Thái Bình Dương. Mặc dù các quan chức Trung Quốc tiếp xúc với NATO một cách thận trọng, nhưng cũng chính thức bày tỏ sự quan tâm hợp tác với liên minh trên cơ sở “tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, bình đẳng và hợp tác”. Trên thực tế, một số trường đại học của Trung Quốc đã thành lập trung tâm nghiên cứu NATO. Ngoài ra, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cũng cử một số sĩ quan cao cấp tham dự một số chương trình huấn luyện quân sự khác nhau do NATO tổ chức. 
NATO quan hệ với Nhật Bản nhưng vẫn lo ngại Trung Quốc. Trong bài phát biểu tại Tokyo , Tổng Thư ký Rasmussen nhấn mạnh các giá trị phổ biến mà Nhật Bản và NATO cùng chia sẻ. Ông cho biết: “NATO và Nhật Bản có tư tưởng giống nhau. Chúng ta có các giá trị giống nhau. Chúng ta chia sẻ các thách thức an ninh tương tự. Và chúng ta cùng chung nguyện vọng hợp tác với nhau. Do đó chúng ta có thể giúp Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế củng cố hệ thống quốc tế trên cơ sở luật pháp, xây dựng an ninh và ổn định trong và ngoài các khu vực của chúng ta”. Nhưng ông Rasmussen cho biết mặc dù chia sẻ những giá trị chung, nhưng quan điểm toàn cầu của liên minh không có nghĩa là NATO tìm cách hiện diện ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà tìm cách hợp tác với khu vực, và Nhật Bản là một đối tác quan trọng của nỗ lực này. Trong suốt thời gian chuyến thăm, ông Rasmussen vẫn giữ khoảng cách nhất định về các vấn đề giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Ông Rasmussen không đề cập đến Trung Quốc trong bài phát biểu và điều đó khiến các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản hết sức thất vọng. Tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Nhật Bản, trả lời câu hỏi về quan điểm của NATO đối với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp lãnh hải ngày càng tăng với Nhật Bản, ông Rasmussen nói: “Chúng tôi không coi Trung Quốc là mối đe dọa trực tiếp các đồng minh của NATO. Chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ sử dụng ảnh hưởng ngày càng tăng trên trường quốc tế một cách hòa bình và xây dựng để duy trì nền hòa bình và ổn định quốc tế”. Rõ ràng ông Rasmussen đã sử dụng những từ ngữ thận trọng và thích hợp để đề cập đến Trung Quốc và vai trò quốc tế của nước này. Ông khẳng định: “Tôi rất muốn chứng kiến một cuộc đối thoại chặt chẽ giữa NATO và Trung Quốc. NATO hoạt động trên cơ sở các sứ mệnh của Liên hợp quốc. Và chúng tôi có mối quan hệ đặc biệt với 4/5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Bởi vì 3 trong số 4 thành viên đó là đồng minh: Mỹ, Anh và Pháp. Và nước thứ 4 là Nga, chúng tôi có mối quan hệ đối tác đặc biệt thông qua Hội đồng Nga-NATO. Nhưng với nước thành viên thứ 5 là Trung Quốc, tôi muốn chứng kiến hai bên sẽ có các cuộc đối thoại chặt chẽ và toàn diện hơn để góp phần ngăn chặn mọi sự hiểu lầm”.
Mặc dù Nhật Bản có chung các giá trị quản lý dân chủ giống phương Tây, nhưng ông Rasmussen vẫn thận trọng không phát ra bất cứ tín hiệu nào có thể được coi như một dấu hiệu ủng hộ Nhật Bản trong một cuộc xung đột với Trung Quốc. Trong khi trả lời các câu hỏi của giới truyền thông Nhật Bản, ông khẳng định NATO không có ý định hiện diện như một liên minh ở châu Á. Vì vậy ông Rasmussen đã xóa bỏ tất cả mọi dấu hiệu về một tham vọng chiến lược hay quan điểm ủng hộ của NATO mà Nhật Bản có thể mong muốn. Mặc dù tuyên bố chung được ký trong chuyến thăm của ông Rasmussen nhấn mạnh đến các từ “đảm bảo tự do hàng hải” và điều đó có thể được coi là một tuyên bố của NATO về cuộc tranh chấp lãnh hải hiện nay ở Biển Hoa Đông giữa Nhật Bản và Trung Quốc, nhưng khi nhắc đến các khu vực có thể đối thoại và hợp tác hơn nữa, đoạn 10 của tuyên bố lại cho rằng hai bên tăng cường hợp tác chống cướp biển chứ không hề đề cập đến hợp tác giải quyết tranh chấp lãnh hải. Một quan chức Nhật Bản nói: "Chúng tôi không hy vọng NATO có những hành động cụ thể mà muốn họ ủng hộ tinh thần và khẳng định các vấn đề ở khu vực châu Á phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Chúng tôi hy vọng NATO sẽ khuyến khích Trung Quốc trở thành nước hành động dựa trên cơ sở quy định luật pháp hơn nữa”. Tóm lại, do hiện nay NATO đang có nhiều hạn chế, ông khẳng định: “NATO không có ý định hiện diện như một liên minh ở châu Á, mặc dù chúng tôi rất muốn can dự với các quốc gia ở châu Á”. Ông muốn NATO có một cuộc đối thoại rộng rãi hơn với Trung Quốc, nhưng không cho biết NATO sẽ hành động thế nào để thuyết phục Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận đa phương nhằm giải quyết các tranh chấp và giúp tạo ra các cuộc đối thoại như NATO mong muốn trong khu vực. 
Mạng Jamestown Foundation Thuỳ Anh (gt)