Thứ Sáu, ngày 23 tháng 8 năm 2013

70. Quan hệ Mỹ-Việt: Cấu trúc an ninh đang nổi lên tại Đông Nam Á

Từ khi bình thường hóa quan hệ ngày 11/7/1995, quan hệ giữa hai nước đã có những bước nhảy vọt và đòi hỏi một “xương sống” mạnh hơn trong bối cảnh những thay đổi mạnh mẽ trong môi trường địa chiến lược, sự định hình và định hướng những ưu tiên trong chính sách ngoại giao của Mỹ và các nước khác tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
Nhận lời mời của Tổng thống Barack Obama, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã thăm Mỹ từ 23-26/7/2013. Mặc dù tháp tùng Chủ tịch Trương Tấn Sang là một phái đoàn lớn gồm các quan chức từ lĩnh vực kinh tế, thương mại, quốc phòng và thậm chí cả một tăng lữ tôn giáo cao cấp để tiếp xúc với các nhóm của Mỹ đang nêu lên các vấn đề căng thẳng liên quan đến hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, nhưng chuyến thăm này mang ý nghĩa chiến lược hơn là ý nghĩa về chính trị hoặc kinh tế. Từ khi bình thường hóa quan hệ ngày 11/7/1995, quan hệ giữa hai nước đã có những bước nhảy vọt và đòi hỏi một “xương sống” mạnh hơn trong bối cảnh những thay đổi mạnh mẽ trong môi trường địa chiến lược, sự định hình và định hướng những ưu tiên trong chính sách ngoại giao của Mỹ và các nước khác tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Liệu chuyến thăm có thể hiện những xu hướng mới trong quan hệ Mỹ-Việt và có ý nghĩa như thế nào đối với “trục châu Á” của Mỹ và cấu trúc an ninh ngày càng tăng trong khu vực? Những nhân tố lớn nào đang thúc đẩy sự tái định hướng quan hệ giữa các quốc gia và đâu là mục tiêu được hướng tới? Mặc dù người ta có thể đánh bạo đưa ra một số dự đoán về các động lực, song vẫn khó chứng minh chắc chắn những nhân tố thực sự đang thúc đẩy những thay đổi đó. 
Những động lực thay đổi 
Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Mỹ giàu ý nghĩa lịch sử lẫn tính biểu trưng. Về lịch sử, đây là chuyến thăm thứ hai của Chủ tịch nước Việt Nam tới Mỹ sau chiến tranh Việt Nam; về biểu trưng, nó tạo tiếng vang về chiến lược và chính trị, đánh dấu cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Việt Nam và Mỹ tại một giai đoạn quan trọng chiến lược trong các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Đánh giá về tầm quan trọng của Việt Nam trong tính toán chiến lược của Mỹ cần được xem xét từ khía cạnh xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương và cấu trúc an ninh của Mỹ như thế nào tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Những ngày chiến tranh Việt Nam đã được chôn vùi từ lâu. Bằng thái độ và hành động độc đoán, Trung Quốc đã tạo nên sự rối loạn về địa chiến lược tại châu Á-Thái Bình Dương. Điều này khiến triển vọng quan hệ Việt-Mỹ trở nên sáng sủa, với những hội tụ chiến lược và chính sách thực dụng đang nổi lên như những động lực nổi bật. Mặc dù tầm quan trọng địa chiến lược của Việt Nam trong trục châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ không thay đổi do vị trí địa chính trị của Việt Nam, nhưng tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam trong tính toán chiến lược của Mỹ lại thay đổi thất thường tùy theo tình trạng quan hệ Mỹ-Trung. 
Đã đến lúc nâng quan hệ song phương Việt-Mỹ lên thành đối tác chiến lược. Không thể phủ nhận rằng quan hệ Việt-Mỹ hiện đang đứng ở ngã ba chiến lược do nguy cơ nổi lên từ Trung Quốc và điều này đã định hình chính sách “trục châu Á” của Mỹ. Việt Nam có tiềm năng đóng một vai trò chủ đạo hơn trong trục chiến lược của Mỹ đối với châu Á- Thái Bình Dương. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Mỹ là một cơ hội lịch sử để nâng cấp mối quan hệ hiện nay lên mối quan hệ Đối tác chiến lược vì Việt Nam đã sẵn sàng can dự chặt chẽ hơn với Mỹ để đối trọng với Trung Quốc. Mặt khác, Mỹ coi Việt Nam như một thành tố quan trọng của chính sách tái cân bằng đối với châu Á. 
Vấn đề nhân quyền và bán vũ khí 
Thật không may, logic chiến lược của quan hệ đối tác Mỹ-Việt vẫn gặp trục trặc do những lo ngại về hồ sơ nhân quyền. Bằng cách đưa một tăng lữ cấp cao tham gia đoàn tùy tùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đang cố gắng làm dịu phản ứng của các nhà hoạt động vì nhân quyền tại Mỹ. Lợi ích kinh tế và chiến lược, nhân quyền và giá trị con người là ba trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ, nhưng trước đây Mỹ đã ưu tiên cho các lợi ích chiến lược và kinh tế. Chẳng hạn, mặc dù Mỹ thiết lập quan hệ với Trung Quốc năm 1979, nhưng các chính phủ liên tiếp của Mỹ chưa bao giờ cảm thấy rụt rè trong việc chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Trung Quốc. Tuy vậy, trong quan hệ Trung-Mỹ, những cân nhắc về kinh tế và chiến lược được ưu tiên hơn những vấn đề khác. Thậm chí Chính quyền Obama đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Cadắcxtan bất chấp báo cáo của tổ chức Ân xá quốc tế về tình trạng vi phạm nhân quyền tại nước này. Hay như việc Ucraina vẫn là đối tác chiến lược của Mỹ mặc dù tổ chức Minh bạch quốc tế xếp nước này trong số những nước “ở dưới đáy” về chỉ số tham nhũng. Do đó, nhân quyền không phải là vấn đề thực sự đối với Mỹ khi các lợi ích khác bị ảnh hưởng. Thế nhưng Oasinhtơn vẫn tiếp tục gây sức ép đòi Hà Nội cải thiện nhân quyền, coi đó như một điều kiện tiên quyết để nâng cấp quan hệ. 
Hiện Mỹ tiếp tục áp đặt lênh cấm bán vũ khí sát thương mà Việt Nam đang cần để hiện đại hóa quân đội. Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã nói với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta rằng việc dỡ bỏ lệnh cấm này sẽ có lợi cho cả Oasinhtơn và Hà Nội. Ông giải thích rằng một khi những hạn chế về bán vũ khí sát thương được bãi bỏ, Việt Nam sẽ mua một số (chủng loại) từ Mỹ, trước hết để sửa chữa và sau đó đại tu những vũ khí còn sót lại sau chiến tranh. Để hiện đại hóa quân đội, Việt Nam cần mua một số loại vũ khí phụ thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu của quân đội. Lầu Năm Góc coi Việt Nam như một đối tác chính tại châu Á-Thái Bình Dương. Vịnh Cam Ranh có vị trí chiến lược và Oasinhtơn khó mà bỏ qua lợi ích của nó. Từ năm 2003, hơn 20 tàu chiến của Mỹ đã dừng chân tại các cảng của Việt Nam , trong đó có vịnh Cam Ranh. Chính phủ Việt Nam hoan nghênh công tác hỗ trợ hậu cần tại các cảng thương mại, bởi các dịch vụ hậu cần khi tàu dừng chân tại đây sẽ góp phần tạo công ăn việc làm. Kể từ khi Mỹ kêu gọi tập trung nhiều hơn tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phát triển năng lực của các đối tác châu Á, trong đó có Việt Nam đã trở thành một phần trong chính sách của Oasinhtơn. Năm 2011, Việt Nam và Mỹ đã ký bản ghi nhớ về việc hợp tác trao đổi quốc phòng không gây sát thương như hợp tác nghiên cứu, cứu nạn, an ninh hàng hải, viện trợ nhân đạo và gìn giữ hòa bình. Mặc dù ông Panetta đã hứa đưa quan hệ song phương lên “một tầm cao mới”, song điều kiện đặt ra là Việt Nam phải cải thiện vấn đề nhân quyền. Trong khi đó, Mỹ lại áp dụng tiêu chuẩn khác đối với những nước đồng minh của Mỹ tại Trung Đông. 
Tại sao Mỹ lại có lập trường hai mặt như vậy đối với Việt Nam? Có thể do bối cảnh chính trị trong nước. Các nhóm xã hội dân sự tại Mỹ, trong đó một số nhóm do những người Mỹ gốc Việt dẫn đầu, từ lâu đã lạm dụng vấn đề nhân quyền để chống lại mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa Việt Nam và Mỹ. Tuy nhiên, Oasinhtơn nhận thấy môi trường chiến lược tại châu Á đang xấu đi là lý do buộc họ phải xác định lại chính sách đối với Việt Nam. Hơn thế nữa, Trung Quốc đang hành động một cách quyết đoán và hiếu chiến tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông, nên Mỹ không được phép để vấn đề nhân quyền chi phối quan hệ của nước này với Việt Nam. Dù sớm hay muộn, quan hệ Việt-Mỹ sẽ được nâng cấp lên đối tác chiến lược, đẩy vấn đề nhân quyền xuống vị trí thứ yếu. Thực tế, nâng cấp quan hệ sẽ thúc đẩy lợi ích chiến lược của cả hai nước, cũng như toàn khu vực. 
Biển Đông và nhân tố Trung Quốc 
Ngoài chính sách “xoay trục sang châu Á” của Mỹ, mối lo ngại chung về Trung Quốc có vẻ là nguyên nhân chính khiến Mỹ và Việt Nam trở nên thân thiện với nhau hơn. Mặc dù nhân tố Trung Quốc đứng đằng sau mối liên kết quan hệ giữa một số nước châu Á, về lĩnh vực kinh tế lại có vẻ tương phản. Quan hệ thương mại của Trung Quốc với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác đang đâm chồi. Dù Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, nhưng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Mỹ lại tăng gấp hơn 6 lần từ năm 2002-2010, đạt 18,6 tỷ USD. Điều này không ngăn cản được Trung Quốc gây bất đồng với các đối tác kinh tế trong khu vực. Hầu hết các nước trong khu vực đều tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, nơi được cho là có nhiều nguồn tài nguyên. Các nhà phân tích cho rằng chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Mỹ là một phần chiến lược của Hà Nội tìm đối trọng chống lại sự hiếu chiến của Trung Quốc tại Biển Đông. Việt Nam có thể giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc và đa dạng hóa quan hệ thương mại với các nước khác. Trong bối cảnh này, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể là một đại lộ hữu ích để Việt Nam đa dạng hóa quan hệ thương mại nhằm giảm sự phụ thuộc vào Bắc Kinh. Nhân tố Trung Quốc là một động lực chủ chốt thúc đẩy Việt Nam và Mỹ xích lại gần nhau hơn. Để bảo vệ sự tự trị về chiến lược, Việt Nam không chỉ tranh thủ Mỹ, mà phải cố gắng thuyết phục các thế lực châu Á đang nổi như Ấn Độ đóng vai trò tích cực hơn trên trường Đông Nam Á. 
Sự thân thiện ngày càng tăng giữa Việt Nam và Mỹ tạo nên một cửa sổ cơ hội cho sự thay đổi dân chủ tại Việt Nam. Các tổ chức quyền công dân nhận thấy sự dễ tổn thương của Việt Nam bắt nguồn từ hành động gây hấn liên tục của Trung Quốc bởi nước này không thể một mình chống lại Trung Quốc. Do đó, Việt Nam cần có bạn bè. Đó là lý do khiến Việt Nam đưa ra những quyết định tỉnh táo cùng với Mỹ và các nước ASEAN khác tạo thành một mặt trận chung để đối phó với thách thức từ Trung Quốc. Chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tới Ấn Độ đầu tháng 7/2013 cũng được đánh giá từ khía cạnh này. Cả Ấn Độ và Việt Nam đang cùng nhau tăng cường hợp tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. 
Liên kết với thế giới 
Việt Nam đã chuyển đổi, hiện đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã tuyên bố có ý định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc vào năm 2014. Việt Nam cũng tăng cường tham gia hoạt động bảo đảm an ninh hàng hải, viện trợ nhân đạo và cứu trợ. Về phần mình, Mỹ đang tập trung các chương trình trợ giúp trong lĩnh vực ứng dụng, năng lượng sạch, phát triển bền vững để giúp Việt Nam đối phó với sự biến đổi của khí hậu. 
Bên cạnh việc sẵn sàng tham gia hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc trong tương lai gần, Việt Nam đang tăng cường tham gia hoạt động với một số tổ chức đa phương. Việt Nam mong muốn trở thành một thành viên có trách nhiệm và đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, với sự đóng góp tích cực để giải quyết các vấn đề quốc tế, nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác tại Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương. Trong bối cảnh môi trường thế giới và khu vực đang thay đổi, các thế lực lớn, trong đó có Mỹ, phải đóng vai trò quan trọng và có trách nhiệm để giải quyết những điểm nóng trong khu vực như Biển Đông, biển Hoa Đông và các vấn đề toàn cầu như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu…Với tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh Mỹ tăng cường hơp tác với châu Á-Thái Bình Dương và chính sách “xoay trục sang châu Á”./.
Tác giả Rajaram Panda là chuyên viên của Viện nghiên cứu hòa bình và xung đột. Bài viết đăng trên mạng “IPCS” (ngày 9/8).
Hương Trà (gt)