Thứ Ba, ngày 24 tháng 5 năm 2011

Về vấn đề dạy học Liên môn trong dạy học Lịch sử ở nhà trường phổ tông hiện nay.


 I. Quan niệm về dạy học liên môn:

- Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học Lịch Sử nói riêng, đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục.
- Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với môn Lịch Sử, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau  “Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp ( inte’gration, integration) trong việc xây dựng chương trình dạy học. Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”[1].
“Tùy theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với nhau như: Lí- Hóa- Sinh, Văn- Sử- Địa. Ở mức độ cao, sự tích hợp này sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là một sự lắp ghép thông thường các môn riêng rẽ lại với nhau. Các môn vẫn giữ vị trí độc lập với nhau, chỉ tích hợp những phần gần nhau. Ở mức độ thấp, việc tích hợp được thực hiện trong mối quan hệ liên môn. Những môn được học riêng rẽ nhưng cần chú ý đến những nội dung có liên quan đến các bộ môn khác, không trình bày trùng lắp trong biên soạn sách giáo khoa và quá trình dạy học mà chỉ khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan đến các bộ môn khác[2]
Theo Nguyễn Quang Vinh, về phương diện dạy học, dạy học theo quan điểm liên môn có ba mức độ: ở mức độ thấp, giáo viên nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi học sinh nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi học sinh phải độc lập giải quyết các bài toán nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết, huy động các môn có liên quan theo phương pháp nghiên cứu[3]
Khoa học lịch sử thuộc nhóm khoa học xã hội nên giữa chúng có quan hệ với nhau, giữa Lịch Sử- Văn Học, giữa Lịch Sử- Triết học, kiến thức của các môn có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau, muốn hiểu được một tác phẩm văn học phải hiểu được hoàn cảnh sáng tác tức là phải biết hoàn cảnh lịch sử, kiến thức của triết học sẽ giúp ta hiểu về lực lượng sản xuất là gì, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực cho xã hội phát triển. Khi dạy bài “Bình Ngô đại cáo” giáo viên không thể không nhắc tới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cũng như khi học bài “Ai tư vãn”, chúng ta có sự đồng cảm với nỗi lòng của Công chúa Ngọc Hân với tình cảm của người vợ giành cho chồng, và đó cũng chính là tình cảm của toàn dân tộc Việt Nam trước sự ra đi quá đột ngột của vị anh hùng áo vải Quang Trung- Nguyễn Huệ. Vì vậy, vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học Lịch Sử là việc thực hiện tính kế thừa trong nhận thức các khóa trình lịch sử dân tộc và thế giới từ cổ đến kim, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách thống nhất, liên tục, tránh nhận thức rời rạc, tản mạn. Đồng thời học sinh có thể thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữa các môn học, từ đó phát triển tư duy cho hoc sinh.

          Cơ sở của dạy học liên môn :

“Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tuợng. Các sự vật, hiện tuợng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới”[4]
Đối với lịch sử càng phải có quan điểm toàn diện khi nhận thức các vấn đề, bởi một trong những nguyên lí của triết học là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, các sự vật hiện tượng đều có quan hệ với nhau. Vì vậy khi nhận thức một vấn đề cần phải đặt nó trong tọa độ chiều dọc hoặc chiều ngang để thấy được mối quan hệ giữa chúng, không nên xem xét hiện tượng, sự kiện một cách đơn lẻ.
Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tồn tại trong sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Sự thay đổi sự vật, hiện tượng này có thể bắt nguồn từ sự thay đổi sự vật hiện tượng khác, và đồng thời nó sẽ ảnh hưởng đến một sự vật, hiện tượng khác nữa. Do đó, khi nhận thức về một vấn đề, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ rồi vội vàng kết luận bản chất và quy luật của chúng. Vì vậy, để nhận thức đúng đắn một vấn đềphải đặt chúng trong mối liện hệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng đó, trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp, trên cơ sở đó ta mới nhận thức đúng và đầy đủ một vấn đề.
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Trong cuộc sống, con người không ngừng hoàn thiện bản thân mình, và để tồn tại trong xã hội con người phải có tri thức. Con người tiếp nhận kiến thức thông qua quá trình học tập, học trong nhà trường, học ngoài xã hội. Tri thức con người tiếp nhận bao gồm tri thức tự nhiên và tri thức xã hội. Có như vậy, con người mới phát triển một cách toàn diện.
Trong quá trình học tập ở nhà trường, chúng ta sẽ được học  các môn học bao gồm các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên gồm các môn: Toán, Lí, Hóa, Sinh, và khoa học xã hội gồm: Văn, Sử, Địa. Giữa các bộ môn trong nhóm có quan hệ với nhau. Ví như giữa Văn Học và Lịch Sử có liên hệ, kiến thức môn này sẽ hỗ trợ cho môn kia, văn học sẽ cung cấp cho ta những tư liệu lịch sử mà nhờ đó học sinh có thể nhận thức một cách rõ ràng, như đọc tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, học sinh sẽ hiểu về những thuế, những sưu mà nhân dân phải gánh chịu, hiểu được những chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, đặc biệt hiểu và thông cảm sâu sắc cho tình cảnh người nông dân Việt Nam, làm việc cực nhọc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng vẫn không đủ sống, mà tôi nghĩ là bằng ngôn từ của mình giáo viên khó có thể khắc họa hết những tủi nhục, những đắng cay mà người dân phải gánh chịu. Và cũng khó tìm thấy một ngôn từ nào để diễn tả cho hết sức mạnh như vũ bão của quân ta trong cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược hơn những lời thơ của Nguyễn Trãi:
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
( Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
Nguợc lại, Lịch sử cũng góp phần hiểu sâu sắc hơn về Văn Học, như phải hiểu hoàn cảnh tác phẩm đó ra đời như thế nào mới hiểu hết được dụng ý nghệ thuật cũng như nội dung su sa mà tác giả muốn gửi đến người đọc là gì. Hay như Địa Lí chẳng hạn, điều kiện tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của lịch sử các nước, hiểu được vị trí địa lí, ta sẽ giải thích được vì sao quân dân ta lại ba lần đánh thắng quân xâm lược trên sông Bạch Đằng. Nói về sự hỗ trợ của Lịch sử đối với các họ khác, G. Elton đã nói “Nhà sử học cũng có thể dạy cho các khoa học khác rất nhiều điều. Anh ta có thể giúp các khoa học này hiểu thế giới quan của nhiều phương án xây dựng sơ đồ, vạch rõ những mối quan hệ tương hỗ mà một chuyên môn hẹp khó nhận thấy, giúp các khoa học xã hội hiểu rằng đối tượng mà chúng có quan hệ là những con người. Trong khi tiếp nhận các khoa học khác tính chính xác và tầm rộng của sự khái quát, đồng thời Lịch Sử có thể hoàn thành nghĩa vụ của mình bằng cách xây dựng một thái độ nghiêm túc đối với các tài liệu và tránh những khái quát không có cơ sở vững chắc”[5]
Giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cũng có quan hệ gắn bó với nhau, như môn Vật Lí bằng phương pháp phóng xạ cacbon đã giúp xác định niên đại các di vật cổ xưa, còn Hóa Học giúp bảo quản các tài liệu thành văn.
Lịch sử xã hội loài người là một tổng thể thống nhất bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Chức năng của bộ môn là cung cấp những kiến thức cơ bản về quá trình phát triển của xã hội loài người ( thế giới và dân tộc), việc nắm vững những sự kiện, quá trình lịch sử đòi hỏi phải nắm kiến thức liên quan đến khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Do đó, việc nghiên cứu và trình bày lịch sử xã hội loài người không thể trình bày một cách phiến diện. Sử dụng mối liên hệ giữa các môn học tạo cho học sinh một tư duy phong phú, một cách suy nghĩ vận động bằng con đường tích hợp những nội dung của một số môn học có liên quan góp phần hình thành ở học sinh hệ thống thống nhất những quan điểm về xã hội hiện đại, hiểu sâu hơn về sự phát triển biện chúng của lịch sử.

II. Thực trạng vận dụng dạy học liên môn trong dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông hiện nay

Từ lâu, vai trò của bộ môn lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ đã được thừa nhận là vô cùng to lớn, thể hiện ở cả ba mặt: trí tuệ, nhân cách, và năng lực tư duy,nhận thức. Vì vậy vấn đề dạy học lịch sử hiện nay khiến cho nhiều người phải trăn trở, suy nghĩ. Việc đổi mới nội dung giáo dục cũng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Sách giáo khoa lịch sử lớp 10 hiện nay có nhiều đổi mới về hình thức và nội dung so với sách giáo khoa lịch sử lớp 10 cải cách giáo dục.
Thực trạng của vấn đề dạy học  liên môn hiện nay có những nét chính sau
Hiện nay giáo viên rất tích cực trong việc đổi mới phương pháp, vận dụng quan điểm dạy học liên môn vào giảng dạy lịch sử để nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục. Giáo viên đã nêu ra những thuận lợi cũng như khó khăn khi vận dụng quan niệm dạy học này là số học sinh có hứng thú tìm hiểu lịch sử ngày càng nhiều hơn, sách giáo khoa được trình bày theo hướng “ mở”.Tuy nhiên, việc vân dụng quan niệm dạy học này cũng gặp phải những khó khăn nhất định như điều kiện dạy học còn nhiều hạn chế, thiếu thốn, do lượng kiến thức nhiều song thời gian cho môn lịch sử không nhiều; đời sống của giáo viên còn thấp.
Mặc dù, quan niệm dạy học liên môn đã được vận dụng vào giảng dạy lịch sử, song hiệu quả đạt được là chưa cao. Do đó phần lớn học sinh hiện nay có thái độ bình thường, chưa phát huy được tính tích cực trong học tập.

III. Dạy học liên môn Sử- Hội họa

a)     Ngôn ngữ hội họa:

Thuộc nhóm nghệ thuật không gian tĩnh, tạo hình sự vật một cách cụ thể, đứng yên, hình ảnh được xây dựng theo ấn tượng thị giác. Hội họa là hình thức không gian phẳng, phải tìm cáh tạo ảo giác về chiều sâu, về không gian ba chiều dựa vào thấu thị học và sắc độ. Hội họa sử dụng ngôn ngữ riêng của mình như:
- Dựng hình: diễn tả cảm xúc của họa sĩ
- Đường nét: vừ là yếu tố đường viền, vừa là yếu tố tạo hình, dựng hình đi với màu sắc, có khả năng miêu tả và biểu hiện.
- Màu sắc: là yếu tố ngôn ngữ cực kì phong phú của hội họa. Sự biến hóa của màu sắc trong hội họa không đủ từ ngữ để miêu tả vì vốn từ về màu sắc của con người là có hạn còn sự phong phú về màu sắc là vô hạn. Màu sắc là đặc trưng ngôn ngữ của một cá tính, một trường phái, một dân tộc. Từ chỗ lựa chọn một màu thích hơp đến kết hợp các màu thành hòa sắc cho bức tranh là cả một sự sáng tạo. màu sắc giữ một vai trò quan trọng như một yếu tố nội dung.
Ví dụ: Bức tranh Logiocon: màu sắc không lòe loẹt, chỉ một màu xanh thẫm, có cảm giác bức tranh đang đẫm hơi nước, hơi sương, đàng sau bức tranh là thiên nhiên, khiến cho ta có cảm giác con người như đang hòa mình với thiên nhiên
Nhắc đến màu sắc trong hôi họa, chúng ta không thể không nhắc tới Le Titian- ông được mệnh danh là bậc thấy về màu sắc “Với ông màu sắc là sức mạnh chủ yếu”. Điều này được thể hiện rất rõ trong các họa phẩm của ông. Ví như trong tranh “Lễ thăng thiên và gia miện của Đức Mẹ”
“ Có rất nhiều ý kiến nhận định về bức tranh bàn thờ Frari, đã cho thấy rõ bố cục màu sắc: vòng thiên đường ở bên trên và một khối hình chữ nhật ở dướ gồm các tông đồ (hình tượng gợi ý là cái quách của Đức Mẹ) ông dung khuôn màu duy nhất của hai ranh giới tạo thành tam giác tiêu biểu là màu đỏ: áo của hai tông đồ ở dưới, ở giữa áo của Đức Mẹ và trên cùng là áo choàng của Đức Chúa Trời- dẫn con mắt người xem  từ dưới lên cao của tấm trnh. Ông dung màu nguyên chất kề bên nhau, tạo thành sự tương phản nhưng vẫn được cân nhắc cẩn thận gợi ý cho người xem trong ánh sáng tự nhiên
- Bố cục: chi phối đặc điểm về thị giác, điểm khi xem tranh, sự sắp xếp hình, màu và sự kiện chính, phụ, nhấn mạnh trọng điểm, làm lu mờ điểm phụ…đó là những nguyên tắc thông thường trong hội họa. Trong hội họa thế giới có phép bố cục cân xứng trong hội họa phục hưng, lối tả thực chính xác trong hội họa hiện thực, chủ nghĩa cổ điển, lối đảo lộn trật tự truyền thống của hội họa hiện đại
Ví như bức tranh “Bữa tiệc cuối cùng của Chúa”







Bố cục và đường nét đặc biệt, có nhiều đường nét song song, không phải là một bàn ăn tròn mà tất cả các thành viên đều quay về một hướng, tạo điều kiên cho người xem thuận tiện trong việc  quan sát rõ từng khuôn mặt của từng nhân vật một và sắc thái của mỗi người. Bàn ăn được chia làm ba nhóm, Chúa ngồi giữa vững chãi, tự tin, tay xòe ra. Những người khác có những cử chí khác nhau: một ngườu chìa tay ra, ý nuốn nói không có gì, một người giãi bày, sắc thái ngạc nhiên, trầm tư. Nhóm hai với người đầu có vẻ như đang nghe ngóng, người kia vẻ như đang thề thốt ” thề có Chúa không phải con”, nhóm ba có Juda- được tạo hình với khuôn mặt tối, ở đây màu sắc được dung là rất có dụng ý nghệ thuật, Chúa mặc áo nổi nhất- màu đỏ, trong khi Juda với màu sắc đen tối 

b)     Tầm quan trọng của dạy học liên môn Sử- Hội họa.

- Đây là một phương pháp dạy học đại trong dạy học Lịch Sử, giúp học sinh phát triển toàn diện về mọi mặt
- Giờ học sẽ trở nên sinh động hơn, vì không chỉ có giáo viên là người trình bày mà học sinh cũng tham gia vào quá trình tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh.
- Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh.
- Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận tức khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mời có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo.
- Rèn luyện cho học sinh khả năng “ đọc” ngôn ngữ hội họa, hiểu được nội dung cũng như tư tưởng mà tác giả muốn đề cập đến.

I         Ứng dụng dạy học liên môn Sử- Hội họa vào giảng dạy bài “Phong trào Văn hóa Phục hưng”

1                   Lí do chọn bài:

Thứ nhất, đây là bài nằm trong phần Tây Ậu hậu kì trung đại. Trước khi học về phong trào văn hóa Phục Hưng thuộc phần Tây Âu hậu kì trung đại, học sinh đã được học thời kì hình thành và phát triển chế độ phong kiến Tây Âu và bài các quốc gia cổ đại phương Tây. Sau khi học xong bài phong trào Văn hóa Phục Hưng, học sinh sẽ chuyển sang học về Tây Âu thời cận đại.
Những bài học trước  sẽ là cơ sở để các em hiểu bài học mới. Các sự kiện xảy ra cùng thời với sự kiện phong trào văn hóa Phục Hưng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với sự kiện đang học. Đồng thời đây cũng là cơ sở để học sinh có nền tảng khi tiếp nhận nguồn kiến thức thời Tây Âu cận và hiện đại.
Thứ hai, đây là bài lịch sử thuộc phần văn hóa, nó sẽ bổ sung kiến thức một cách toàn diện cho học sinh, giúp học sinh hiểu rằng lịch sử không phải chỉ có những cuộc đấu tranh, biểu tình mà lịch sử còn là những nét về văn hóa, kiến trúc, điêu khắc của các nước. Từ đó tạo hứng thú học tập ở học sinh.
Thứ ba, học xong bài này sẽ giúp học sinh giải thích được những vấn đề liên quan đến các môn học khác, ví như học sinh có thể hiểu được tại sao nội dung văn học, hội họa thời kì này lại khẳng định quyền con người và cái “tôi” của mỗi người được đề cao. Đồng thời học sinh hiểu được những thành phố lớn trên thế giới có các di tích lịch sử văn hoá thời kì Phục Hưng khi các em học phần địa lí văn hóa thế giới. Đặc biệt, đây là một nội dung thuộc phần lịch sử thế giới, học sinh sẽ có một nhận thức đầy đủ hơn đối với lịch sử dân tộc trong quan hệ đối sánh với lịch sử thế giới.

2                   Nội dung bài:

Ø    Mục tiêu bài học:
ü          Về kiến thức:
- Giai cấp tư sản đang lên trong khi các giáo lý của nhà thờ Thiên Chúa đã lỗi thời. Họ cần có một hệ tư tưởng riêng trên cơ sở một nần văn hóa phù hợp với đời sống và lợi ích giai cấp của họ.
- Phong trào Văn hóa Phục hưng lên án Giáo hội, tấn công vào trật tự phong kiên, đề cao giá trị con người và tự do cá nhân.
- Phong trào Văn hóa Phục hưng có giá trị nhân văn sâu sắc, tính phản phong mạnh mẽ, song chưa thật triệt để.
ü            Về tư tưởng, tình cảm:
- Giúp học sinh hiểu rõ những giá trị văn hóa của loài người trong thời kì Phục hưng, từ đó có ý thức trân trọng và giữ gìn những giá trị văn hóa đó.
ü            Về kĩ năng:
- Rèn học sinh kĩ năng phân tích, phê phán thấy rõ sự lạc hậu của giai cấp phong kiến và giáo hội.
- Kĩ năng khai thác tranh ảnh về văn hóa Phục hưng.
Bài gồm có ba phần:
Vấn đề 1: Hoàn cảnh ra đời của phong trào Văn hóa Phục Hưng
- Hậu kì trung đại, bộ mặt kinh tế Tây Âu có nhiều thay đổi, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật.
- Những quan điểm lỗi thời của xã hội phong kiến kìm hãm sự phát triển của giai cấp tư sản.
- Giai cấp tư sản có thế lực về kinh tế, song chưa có địa vị về xã hội tương ứng, vì vậy họ muốn xóa bỏ chướng ngại phong kiến.
Vấn đề 2: Những thành tự chính của Văn hóa Phục Hưng:
- Phong trào Văn hóa Phục Hưng là khôi phục tinh hoa văn hóa xán lạn cổ đại Hy Lạp, Rôma, đấu trnh xây dựng một nền văn hóa mới, một cuộc sống tiến bộ.
- Thành tựu:
+ Khoa học kĩ thuật có tiến bộ vượt bậc về y học, toán học.
+ Văn học nghệ thuật phát triển phong phú với những tài năng như: Leonard de Vinci, Sech- xpia.
- Nội dung của phong trào Văn hóa Phục hưng:
+ Phê phán xã hội phong kiến và giáo hội.
+ Đề cao giá trị con người.
+ Đòi quyền tự do cá nhân.
Vấn đề 3: Ý nghĩa của phong trào Văn hóa Phục Hưng:
- Lên án giáo hội Kito, tấn công vào trật tự phong kiến, đánh bại tư tưởng phong kiến lỗi thời.
- Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
- Đề cao tự do, xây dựng thế giới quan tiến bộ.
ÆSơ đồ cấu trúc vấn đề phong trào Văn hóa Phục Hưng
Hoàn cảnh ra đời                                Cái nôi xuất hiện
                                                              Các sự kiện đương đại
                                     Chủ nghĩa nhân văn
     Nội dung                 Thái độ với giai cấp thống trịs
                                     Thái độ với ngườu lao động
                                     Tình cảm dân tộc
                                     Nhân vật lí tưởng của thời đại
                                    
    Ý nghĩa                 Giải phóng tư tưởng
                                   Làm phong phú kho tàng văn hóa nhân loại

3                   Ứng dụng vào bài: Phong trào Văn hóa Phục Hưng

Giáo viên đưa ra những tranh, ảnh thể hiện hiện nội dung của phong trào văn hóa Phục Hưng, sau đó sẽ giải thích về những nội dung được thể hiện trong tranh. Cuối cùng, đặt một số câu hỏi giúp học sinh nhận thức vấn đề và rút ra kết luận cần thiết.
Tranh Mona Lisa của Leonard de Vinci
“ Điều khiến ta sửng sốt trước tiên là mức độ sống động đến lạ lung của Lisa. Nàng thực sự như đang nhìn ta và có một tâm tư riêng. Nàng như thay đổi mỗi lần ta trở lại với nàng. Đôi lúc nàng như chế giễu ta và rồi có khi như bắt gặp một điều chi buồn bã nơi nụ cười của nàng”[1]. Đây là bức chân dung vẽ nửa người, lớn gần bằng người thật được diễn tả rất sống động, đầy sinh khí với thế giới nội tâm phức tạp. Mona Lisa mặc chiếc áo màu sẫm, cổ mở tương đối rộng, hai bàn tay đặt hờ hững lên nhau ở phía trước, nét mặt hiền hậu, thông minh và nụ cười mỉm khó tả, nụ cười phảng phất dường như gợn sóng thoảng nhẹ trên mặt hồ, đượm vẻ xúc động của tâm hồn, làm cho nhân vật trở nên sống động, huyền bí. Nền tranh là phong cảnh bao la man mác với con đường, những lùm cây êm đềm, nhịp cầu nho nhỏ, dòng nước uốn quanh,… không gian êm đềm đó đã tôn vẻ đạp của nàng Mona Lisa lên, đồng thời như quyện lấy người đẹp, tạo nên một sự hài hòa tuyệt diệu giữa người và cảnh.
Tranh “Ginerva Benci”
Chủ đề chân dung mĩ nhân “Ginerva Benci” trong tranh thoáng nhìn chúng ta với một vẻ hờn dỗi yêu kiều tuyệt vời. Môi nàng cong lên, hầu như tỏ vẻ bất bình, hoặc một niềm tự hào và mái tóc đẹp, hoàn hảo, đầy tự tin vươn trên chiếc cổ cao trắng ngần. Đôi mắt nàng dường như hơi nheo lại. Cặp chân mày nàng thanh mảnh, đáng yêu, uốn cong từ vầng tráng sáng sủa, thông minh. Những nét này được lặp lại ở các nhánh tóc xoăn, xòe xuống đôi má yêu kiều của nàng
Giáo viên hỏi: Các em quan sát bức tranh và cho cô biết chân dung của nàng “Mona Lisa” và “ Ginerva Benci” chiếm bao nhiêu phần của bức tranh? Điểu đó nói lên điều gì?
Trả lời: Hình ảnh nàng “Mona Lisa” và “ Ginerva Benci” chiếm gần hết bức tranh, thể hiện con người là trung tâm của vũ trụ, con người cần được ca ngợi, cần được tôn vinh.
Tranh “Đức Mẹ ngồi trên ghế bành”
Hình:Raffael 051.jpgVòng tay âu yếm, cái nhìn trìu mến yêu thương, cái áp dịu dàng ấm áp…Tình mẫu tử của Thánh thần hay con người tỏa ra từ bức tranh khiến ta lưu luyến không muốn rời xa
Tranh “Đức bà Si-xtin”
Bức tranh kể chuyện Thánh nhưng hình ảnh Madona toát lên tâm trạng người mẹ trẻ bên đứa con thơ. Thánh Si-xtin kính cẩn đặt mũ xuống sàn, tay chỉ về phía muôn người nói: “Theo lệnh Chúa cha, xin Đức bà hãy trao chúa hài đồng cho cuộc thế”. Người mẹ môi run lên như đắn đo: “Cuộc đời đầy giông bão, ta trao con ta cho trần thế không biết nó có trụ lại nổi cõi đời không”[2]
Tranh “Người làm vườn xinh đẹp” của Rafael

Tranh “Người làm vườn xinh đẹp”  có bố cục cân đối với ba nhân vật- một cô gái với hai cháu bé trong một không gian rộng lớn. Cô gái với một vẻ hiền dịu làm ta liên tưởng đến khuôn mặt ngời sáng của Đức Mẹ trong bức tranh “Đức bà Si-xtin”. Hai em bé bụ bẫm, vui tươi làm người xem nghĩ đến Chúa hài đồng với khuôn mặt đầy ánh hào quang, như đang hướng về Chúa. Bức tranh diễn tả một khung cảnh đời thường- cô gái săn sóc các em bé, như chăm bón cho cây non trong vườn cây tràn đầy sức sống. Những hình ảnh rất thân thương, rất đời thường lại mang hình ảnh rất tôn nghiêm, kết hợp hài hòa với bức tranh “Đức bà Si-xtin” diễn tả cảnh rất trang nghiêm- Đức Mẹ Đồng trinh đang bế chúa Hài đồng nhưng lại rất gần gũi và đời thường[3]
Giáo viên hỏi: Các nhân vật trong tranh đều là các Thánh, nhưng nội dung được thể hiện trong tranh hướng tới điều gì?
Trả lời: Các bức tranh trên tuy có hướng về tôn giáo, hướng về chúa, song điều nổi bật là tình mẹ con, tình người đẹp đẽ mãi mãi sống với nhân loại.
(Giáo viên yêu cầu học sinh nhìn kĩ vào trung tâm bức tranh)
        Giáo viên mô tả: trường học Aten là bức họa lớn mô tả sự rực rỡ của thời đại hoàng kim lịch sử văn hóa nhân loại, đề cao tư tưởng triết học Hy Lạp. Bức tranh vẽ cuộc tranh luận về vũ trụ và tâm linh của các nhà hiền triết và bác học của thế giới cổ đại có quan niệm khác nhau về nhân sinh, về vũ trụ nhưng là những người đại diện cho trí tuệ của loài người. Ở diện sau của tranh, trên nền cao của một ngôi đền đồ sộ, lộng lẫy là hai nhân vật chính đang vừa đi vừa thảo luận, đó là Platon ( tay chỉ lên trời, tượng trưng cho niềm tin nơi thượng đế) và Arittot ( tay chỉ xuống đất, nơi cuộc sống diễn ra hằng ngày)
Giáo viên hỏi: đây được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của các nghệ sĩ thời Phục Hưng. Vì sao?
Trả lời:  đây được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của các nghệ sĩ thời Phục Hưng, họ không còn tin ở những gì được nêu ra trong kinh thánh mà bắt đầu đi tìm hiểu, quan sát để tìm ra sự thật.
Dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung và trong dạy học Lịch Sử nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả đòi hỏi sự nỗ lực ở cả thấy và trò. Và việc thực hiện nó không phải bài nào, không phải phần nào cũng thực hiện được.
Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi, để khắc phục tình trạng dạy- học Sử như hiện nay, không chỉ đổi mới phương pháp mà phải thay đổi cả cách suy nghĩ của mọi người, của xã hội về vị trí của môn Sử trong việc đào tạo con người. Hơn nữa, để cải thiện chất lượng dạy và học môn Sử hiện nay không phải chỉ có giáo viên cố gắng mà học sinh cũng phải ý thức hơn trong việc học tập. Thử hỏi giáo viên dạy hay, tiết học sinh động, hấp dẫn nhưng học sinh không học bài, không chuẩn bị bài, không đọc sách giáo khoa, vậy thì kết quả sẽ vẫn là….
Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy- học môn Sử cũng như chất lương giáo dục cần có sự quan tâm của tất cả mọi người, của cả xã hội.
1.        Phạm Thanh Bình, 3/1995, Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học ở trường phổ thông- yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giáo dục hiện nay, Tạp chí NCGD
2.          Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006, Giáo trình triết học Mác- Lenin, NXB Chính trị quốc gia.
3.          Nguyễn Thị Côi, 2/2002, Kênh hình, một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học Lịch sử, Tạp chí nghiên cứu giáo dục
4.          Trần Văn Cường, 7/1997, Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử ở PTTH, Tạp chí NCGD.
5.          N.A.ÊROPHEEP, 1981, Lịch sử là gì, NXBGD.
6.          E.H Gombrich, Lê Sĩ Tuấn dịch, Câu chuyện nghệ thuật, NXB Văn nghệ HCM.
7.          Trần Bá Hoành, 1/1994, Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Tạp chí nghiên cứu giáo dục.
8.          Phan Ngọc Liên- Trần Văn Trị, 2004, Phương pháp dạy học lịch sử, NXBGD.
9.          Mai Ngọc Luông, 10/2005, Đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử bậc trung học- một yêu cầu bức thiết, Tạp chí Dạy và học ngày nay
10.      Trần Đức Minh, 4/1999, Một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh, Tạp chí NCGD.
11.      Ngô Minh Oanh- Nhữ Thị Phương Lan- Đào Thị Mộng Ngọc, 2006, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường THPT, môn Lịch Sử
12.      Lê Vinh Quốc, 2007, Đề cương tóm tắt chuyên đề phương pháp dạy học lịh sử, ĐHSPTPHCM
13.      Vũ Văn Tảo, 4/1995, Yêu cầu mới đối với mục tiêu- nội dung- phương pháp giáo dục: xu thế và hiện thực, Tạp chí NCGD.
14.      Trần Viết Thụ, Góp thêm ý kiến về phương pháp giảng dạy các nội dung văn hóa trong môn Lịch sử PTTH, Tạp chí NCGD.
15.      Trần Viết Thụ, 12/1997, Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hóa trong SGK lịch sử PTTH, Tạp chí NCGD.
16.      Trịnh Tiến Thuận- Nguyễn Xuân Trường- Nguyễn Nam Phóng- Lê Hiến Hương- Phan Ngọc Huyền, 2007, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch Sử lớp 10, NXBHN
17.      Đào Vĩnh, 9/1995, Lối dạy” Đọc- chép”- những nguyên nhân và cách khắc phục, Tạp chí NCGD.
Trang web: google.com/ hội họa phục hưng


[1] E.H Gombrich, Lê Sĩ Tuấn dịch, Câu chuyện nghệ thuật, NXB văn nghệ HCM
[2]
[3] Trịnh Tiến Thuận- Nguyễn Xuân Trường- Nguyễn Nam Phóng- Lê Hiến Chương- Phan Ngọc Huyền, 2007, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch Sử 10, NXBHN, tr 70