Khác
với thời của Đặng, quyền lực và ảnh hưởng trong đối nội và đối ngoại
của PLA thời của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã tăng cường một cách
mạnh mẽ. Chân dung một Trung Quốc ngày một quyết đoán, thậm chí thách
thức trực diện với Mỹ đã không còn là sự suy đoán.
Đại
hội ĐCS/TQ (CCP) đã vạch ra cơ sở căn bản về chính sách đối ngoại của
Trung Quốc. TBT mãn nhiệm Hồ Cẩm Đào trong bài Báo cáo chính trị trước
Đại Hội đã bày tỏ sự sẵn sàng hợp tác, nhưng nhấn mạnh rằng sẽ không
nhân nhượng một tấc đất nào liên quan đến chủ quyền, an ninh và lợi ích
phát triển của TQ trước sức ép bên ngoài. Ông Hồ Cẩm Đào cũng đã cho
thấy dấu hiệu chính sách đối ngoại trong vòng năm năm tới của Bắc Kinh
khi mà ảnh hưởng của TQ trên các vấn đề quốc tế không chỉ đưa lại trách
nhiệm lớn hơn mà còn tạo ra những cọ xát với các nước láng giềng, với
một số nền kinh tế phát triển do họ không hài lòng với sự trỗi dậy và
cạnh tranh của TQ.
Không
giống ẤĐ, một nước giành lại độc lập thông qua phong trào dân sự bất
bạo động, nước Cộng hoà Nhân dân TQ ra đời thông qua cuộc cách mạng vũ
trang. Trong hai thập kỷ đầu, các tướng lĩnh nắm giữ các chức vụ dân sự.
Trong những năm 80s, Đặng Tiểu Bình cố gắng biến quân đội giải phóng
nhân dân (PLA) thành một quân đội chuyên nghiệp. Nhưng giai đoạn sau
Đặng, cố gắng này dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lại bị đảo
ngược trở lại. Cả hai đều không trải qua thời kỳ trong quân ngũ và cần
sự ủng hộ về chính trị của quân đội (PLA). Sự ủng hộ này đã phải trả
giá. Trong giai đoạn lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào, PLA đã có được quyền
lực lớn nhất trong lịch sử hiện đại của TQ. Sự quyết đoán và phiêu lưu
trong các quyết định của TQ đã xuất hiện từ năm 2008 và đặc biệt là từ
2010. Hiện nay, Quân giải phóng nhân dân (PLA) không có một đại diện nào
trong Thường trực Bộ Chính trị (PBSC), nhưng không phải là quân đội
không có quyền lực thực sự. Quyền lực của quân đội xuất phát từ tỷ lệ
người đại diện chiếm 20% trong Quân Uỷ Trung ương (CMC), một tỷ lệ quá
cao và không cân đối. Trách nhiệm của Quân đội TQ là đảm bảo các nguồn
tài nguyên ở bên ngoài TQ như dầu, khí và các nguồn tài nguyên khác.
Mặc
dù Đảng Cộng sản có tiếng nói lớn nhất nhưng Quân đội giải phóng PLA,
với tư cách là một công cụ của ĐCS/TQ vẫn tham gia vào chính sách đối
ngoại bởi quân đội không chỉ chịu trách nhiệm về an ninh vật chất của
quốc gia mà còn bảo vệ những nguồn tài nguyên ở nước ngoài và giành lại
những lãnh thổ mà TQ tranh chấp. Bởi vậy, ĐCS/TQ phải thoả hiệp với PLA.
Trong vòng ba năm qua, một điều rõ ràng là Quân đội TQ đã có tiếng nói
lớn không chỉ đe dọa mà còn thực hiện những biện pháp trừng phạt nhỏ đối
với PLP, Việt Nam và NB trên các vấn đề lãnh thổ. Điều này không thể
sớm biến mất.
Ông
Hồ Cẩm Đào đã làm rõ trong báo cáo Chính trị rằng TQ sẽ không từ bỏ một
nỗ lực nào để làm cho quân đội TQ có đủ năng lực tham chiến với kẻ thù
không chỉ bên ngoài hải phận của TQ mà còn tấn công vào tận sào huyệt
của kẻ thù thông qua các cuộc chiến tranh không hạn chế. Sẽ tiến hành cơ
động hoá quân đội và có những tiến bộ lớn trong việc áp dụng công nghệ
thông tin quân sự vào năm 2020. Những mục tiêu này gồm giành thắng lợi
trong “những cuộc chiến tranh cục bộ trong thời đại thông tin”, đồng
thời an ninh vũ trụ và an ninh không gian ảo là những nhiệm vụ chiến
lược phải thực hiện.
Ưu
tiên tối cao vào thời điểm này là giành thắng lợi các cuộc chiến tranh
cục bộ, có nghĩa là phải lấy lại những lãnh thổ còn tranh chấp vốn TQ
coi đó là lãnh thổ của họ. Hiện nay, cuộc tranh chấp lớn nhất là với NB
về chủ quyền của đảo Điều ngư vốn có những tác động kinh tế và chiến
lược toàn cầu. Cuộc xung đột khác nữa là về quần đảo Trường Sa ở Biển
Đông vốn không phải là vấn đề khu vực như TQ thường rêu rao. Sau sự kiện
Thiên An Môn 1989 do bị cô lập về mặt quốc tế, Đặng Tiểu Bình đã thực
hiện chiến lược “giấu mình chờ thời”. Trong thập kỷ qua, một bộ phận
trong số chuyên gia chiến lược của TQ đã cố gắng đưa ra chủ thuyết rằng
TQ đã trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự, vì vậy không còn lý
do để che dấu sức mạnh của mình.
Một
trong những chủ thuyết này là các nước phía đông của kênh đào Suez kể
cả một phần của châu Phi cho tới khu vực CÁ - TBD nên đặt dưới sự bảo hộ
của TQ. Một dải các nước này gồm có cả Nam Á và ẤĐ. Điều này đã được
nêu ra năm 2004. Một sự lấn lướt khác là việc vừa qua, TQ coi Biển Đông
là “lợi ích cốt lõi” của nước này. Điều này có nghĩa là TQ sẽ kiểm soát
Biển Đông vốn là một đường hàng hải quốc tế lớn.
Cả
hai chủ thuyết đó cần có sự ủng hộ của Mỹ, điều đến nay vẫn chưa xuất
hiện. Nhiều ý tưởng hình thành ở TQ do sự tuyên truyền xảo trá của chính
quyền nói rằng hiện nay đồng thuận Washington (Washington Consensus)
phải nhường chỗ cho đồng thuận Bắc Kinh (Beijing Consensus) và Mỹ là một
cường quốc đang đi xuống còn TQ là cường quốc đang trỗi dậy. Những khái
niệm như vậy thời gian qua đã được củng cố khi TQ vượt NB về kinh tế từ
năm ngoái, và các dự đoán của các tổ chức như Quỹ tiền tệ quốc tế IMF
rằng TQ sẽ vượt Mỹ về kinh tế trong vòng 5 năm nữa.
Những
dự đoán như vậy thật kỳ lạ và sai lạc vì chúng không tính đến dân số
vốn quyết định sức mạnh theo đầu người, tình hình xã hội bên trong kể cả
sự chênh lệch giàu nghèo, sự huỷ hoại môi trường, những dự án tai hoạ
vốn rất ầm ĩ như “Đập Tam Hiệp”, sự phụ thuộc bên ngoài về nguyên nhiên
liệu. Sự phụ thuộc bên ngoài là rất lớn và hiển nhiên trở thành “gót
chân Asin” trong chính sách đối ngoại của TQ. Bắc Kinh đã lặng lẽ thực
hiện chính sách của mình ở khu vực CÁ - TBD trong khi Mỹ đang bận dính
líu tại Iraq và Afghanistan. Nhưng với việc Mỹ kết thúc chiến tranh Iraq
và sự can thiệp ở Afghanistan dần kết thúc, Washington đã chuyển sự
quan tâm của mình sang CÁ - TBD. Đó là chính sách của TTh Obama về “tái
cân bằng ở châu Á” hay còn gọi là “Xoay trục”.
Sau
Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã chịu tổn
thất nặng nề về người và tài chính nên đã quay lưng và nhường lại khu
vực này cho TQ. Như ông Obama đã nói, Mỹ có lợi ích về an ninh, ổn định
và kinh tế của khu vực và cũng như tạo việc làm cho người Mỹ. Washington
đã nói rõ rằng Mỹ sẽ không làm cho các nước đồng minh của Mỹ như NB và
HQ thất vọng, và sẽ thúc giục Australia tích cực hơn trên các vấn đề an
ninh của khu vực liên quan đến TQ, khởi động lại hiệp định quân sự với
PLP và đang xây dựng mối liên minh mới với kẻ thù cũ là Việt Nam.
TQ
theo dõi những động thái của Mỹ một cách chặt chẽ kể cả chuyến thăm của
TTh Obama sang Thái Lan (18/11), Myanma (19/11) và CPC dự Hội nghị
ASEAN. TQ coi những nước này là thuộc vào những nước phục tùng của TQ
nhưng đã cẩn thận không có phản ứng nào bất lợi. Mỹ cũng rất khôn khéo
trong từng bước đi, tránh để rơi vào thế dẫn đến khiêu khích TQ. Tình
hình nguyên trạng và việc TQ từ bỏ thái độ đe doạ trong khu vực tránh
một cuộc chiến tranh khu vực là sự mong muốn của Mỹ hiện nay. Nhưng
không may, TQ đang chuẩn bị cho những cuộc chiến hạn chế tại khu vực.
Vẫn chưa rõ rằng đây có phải là một thuyết của TQ là dùng mối de dọa là
để các nước đối địch khuất phục và giành chiến thắng mà không cần tiến
hành chiến tranh. Khu vực chiến trường vẫn chưa rõ ràng nhưng các căng
thẳng thì đang hiện rõ hơn.
Để
trở thành một cường quốc, một quốc gia cần có những đồng minh mạnh và
trung thành. Mỹ có rất nhiều nước như vậy trong các cường quốc NATO,
nhiều nước thuộc thế giới Ả-rập và trong khu vực CÁ - TBD như NB và
nhiều nước khác. Ngược lại, đồng minh của TQ chỉ có Bắc Triều Tiên,
Pakistan, Zimbabwe và Iran. Sự so sánh này thật không lí thú chút nào.
Ban
lãnh đạo mới của TQ đang đứng ở bên bờ vực thẳm mà từ đó họ hoặc là bay
lên cao hoặc lao xuống vực. Không thể có lựa chọn thứ ba. Sự phát triển
trong một quốc gia gắn chặt với chính sách đối ngoại trong một thế giới
toàn cầu hiện nay. Vứt bỏ tư tưởng của Đặng Tiểu Bình vào thời điểm này
và buộc các nước láng giềng phải khuất phục là một con đường khó khăn.
Châu Á, đặc biệt là toàn bộ khu vực CÁ - TBD, các đường hàng hải, hàng
không và vũ trụ không thể bị một nước toàn quyền kiểm soát. Các nước ở
bên ngoài khu vực cũng có lợi ích ngang bằng trong việc giữ các đường
giao thông này mở. Vừa qua, trước chuyến đi của TTh Obama, cố vấn an
ninh quốc gia Tom Donillon đã nêu ra rõ ràng hơn sự “tái cân bằng” hay
“xoay trục” của Mỹ ở châu Á.
Khi
ông Dillon đảm bảo với TQ rằng Mỹ không đứng về bên nào đối với tranh
chấp Biển Đông và Hoa Đông, ông đã làm rõ rằng “ASEAN” là cốt lõi của
chính sách châu Á của Mỹ, rằng Mỹ ủng hộ sự mở cửa kinh tế, giải quyết
hoà bình các cuộc xung đột, tự do chính trị và quản lý dân chủ. Tăng
cường Liên minh an ninh với NB, HQ, Australia, PLP đã được nhắc lại và
các mối liên minh tại châu Á cũng sẽ được củng cố hơn nữa. Và cuối cùng,
Washington cũng khẳng định sự ủng hộ đối với việc thiết lập Đối tác
xuyên Thái Bình Dương vốn lúc đầu chỉ có 7 thành viên nay đã thêm VN,
Malaysia, Mexico, và Canada. NB đã bày tỏ quan tâm tham gia. TQ tỏ ra
rất nghi ngờ. TQ được coi vừa là đối tác, vừa là đối thủ cạnh tranh. Mặc
dầu vậy, TQ đã được thuyết phục để có trách nhiệm toàn cầu phù hợp với
ảnh hưởng và tác động của nó. Đây là điều mà ban lãnh đạo mới của TQ đã
nhận thức được và chấp nhận. Rất nhiều khả năng TTh Obama sẽ theo đuổi
mạnh mẽ “chiến lược tái cân bằng châu Á” của ông. Đặc biệt là ông Obama
không còn phải lo tái ứng cử nữa và chính sách châu Á của ông ta sẽ làm
ổn định khu vực và tạo việc làm cho người Mỹ.
Ban
lãnh đạo mới của TQ đã được bầu chọn xong trong một môi trường toàn cầu
mới. Trách nhiệm của họ sẽ phải là đảm bảo rằng châu Á, đặc biệt là khu
vực phía Đông TQ không bị bùng nổ và ẤĐ dương không bị quân sự hoá.
Phần còn lại sẽ để cho mỗi thành viên trách nhiệm trong khu vực tự quyết
định thái độ và lập trường của mình. Châu Á đang hướng tới một tương
lai đầy thú vị.
Tác giả Bhaska Roi là nhà phân tích nổi tiếng về Trung Quốc tại Ấn Độ. Bài được đăng trên Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc Chennai, Ấn Độ.
Văn Cường (gt)