Thứ Bảy, ngày 01 tháng 12 năm 2012

42. Tổng hợp thông tin về chính sách đối ngoại của Trung Quốc

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC

Các bài viết về chính sách đối ngoại của Trung Quốc:

2012

1.    RFI (6-5-2012): Ý kiến dân TQ về chiến sự Biển Đông.

2.    BBC (22-5-2012): Bắc Kinh hung hăng làm Hoa kiều gặp khó.

3.    VNN (29-5-2012): Biển Đông không phải là thùng thuốc súng.

  1. NCBĐ (4-6-2012): Chuyên gia TQ: Không thể dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp.
  2. GDVN (17-6-2012): Trung Quốc tăng trưởng quân sự 10 năm nữa cũng không thể thắng Mỹ?
  3. RFA (26-6-2012): Chủ nghĩa bành trướng không còn phù hợp với thời đại.
  4. VNN (6-7-2012): Bá quyền Biển Đông: Chiến lược hay liều lĩnh?
  5. ĐVO (6-7-2012): Trung Quốc: Hợp tác hay bị 'ra rìa'?
  6. BVN (23-7-2012): Ruột đau chín khúc.
  7. VNN (23-7-2012): Trung Quốc với tham vọng bá chiếm tài nguyên biển.
  8. ĐVO (25-7-2012): Sự hoang tưởng về chủ quyền của TQ.
  9. ĐNO (28-7-2012): Trung Quốc đưa tin về bản đồ nhà Thanh không có Hoàng Sa.
  10. VNN (30-7-2012): Vì sao Trung Quốc 'ngang nhiên' ở Biển Đông?
  11. NCBĐ (31-7-2012): Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã chấm dứt.
  12. VNN (7-8-2012): TQ phân cực chiến lược tại Châu Á-Thái Bình Dương.
  13. VNN (8-8-2012): Tọa đàm với GS Carl Thayer.
  14. ĐCV (9-8-2012): Trỗi dậy và sụp đổ.
  15. VNN (10-8-2012): Trung Quốc sẽ phải tìm cách thỏa hiệp về "đường 9 đoạn".
  16. VNN (15-8-2012): Giới học giả 'bắt bài' Trung Quốc.
  17. VNN (17-8-2012): Trung Quốc: Được - mất với quân bài 'chơi rắn'.
  18. PTT (18-8-2012): Ước mơ siêu cường của Trung Quốc trên Biển Đông.
  19. BVN (1-9-2012): Trung Quốc bàn cách dùng vũ lực độc chiếm Biển Đông.
23. NVO (1-9-2012): Hải quân Trung Quốc chưa đáng ngại ở biển Ðông.
  1. VN+ (5-10-2012): “Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phá sản”.
  2. NCBĐ (9-10-2012): Chuyển giao lãnh đạo và chính sách đối ngoại của Trung Quốc.
  3. VNN (12-10-2012): Căng thẳng Trung - Nhật: Kinh tế thế giới lãnh đủ.
  4. BVN (30-10-2012): Cáo lỗi cùng thế giới: Những gì xảy ra ở Bắc Kinh sẽ không giới hạn tại Bắc Kinh.
  5. RFI (4-11-2012): Chủ nghĩa dân tộc đe dọa sự yên bình ở Biển Đông.
  6. VNE (17-11-2012): Chính sách đối ngoại của Trung Quốc thời Tập Cận Bình.
2011

  1. TN (2-2-2011): Trung Quốc sẽ đi về đâu?
  2. DV (23-2-2011): Trung Quốc chưa phải đối thủ của Mỹ .
  3. RFI (9-3-2011): Trung Quốc chỉ là một cường quốc khu vực cho dù tăng ngân sách quốc phòng.
  4. DCV (12-3-2011): Trung Quốc: con đường trước mắt.
  5. TL (12-3-2011): Trung Quốc và giấc mộng Đại Đông Á: Tai họa tại Nhật là một thời cơ.
  6. RFI (27-3-2011): Trung Quốc cư xử không xứng tầm với vị thế cường quốc.
  7. TT (8-4-2011): Trung Quốc sẽ mất ưu thế hàng giá rẻ?
  8. VND (14-4-2011): Thực sự tiềm lực quân sự TQ so với Mỹ.
  9. BVN (14-4-2011): Một nước Trung Quốc không bị kiềm chế.
  10. VNN (5-7-2011): Hoài niệm và tham vọng tàu sân bay.
  11. VNN (7-7-2011): Trung Quốc sẽ trở thành một siêu cường kỳ quặc?
  12. DCV (9-7-2011): Tại sao thế kỷ 21 không thuộc về Trung Hoa?
  13. BVN (17-7-2011): Con đường gập ghềnh trước mặt Trung Quốc.
  14. BVN (14-8-2011): Thi Lang Đang.
  15. BVN (18-9-2011): Vương quốc trung bình.
  16. BVN (23-9-2011): Liệu Trung Quốc có thể gây ra cuộc chiến một khi Việt Nam và Ấn Độ cũng như Hoa Kỳ và Nhật Bản, Úc cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á kết thành một khối?
  17. VTC (30-9-2011): Bắc Kinh trong cuộc đào thoát vòng vây chiến lược Mỹ.
  18. DT (3-10-2011): Người khổng lồ bị sập bẫy?
  19. VOA (11-10-2011): Cựu ngoại trưởng Kissinger: Trung Quốc sợ bị Hoa Kỳ bao vây.
  20. BVN (13-10-2011): Vì sao Trung Quốc sẽ không chinh phục được thế giới.
  21. BVN (16-10-2011): Ảnh hưởng Trung Quốc: thịnh hay suy.
  22. DT (3-11-2011): Giới hạn của quyền lực: Vì sao Trung Quốc là “gã láng giềng xấu tính”?
  23. NCBÐ (21-11-2011): Ấn Độ có cơ hội chi phối trật tự đang thay đổi tại Đông Á.
  24. NCBÐ (21-11-2011): Thế bị động của Trung Quốc tại EAS về vấn đề Biển Đông.
  25. BVN (23-11-2011): Làm thế nào để thành một Đại Cường Quốc.
  26. VNN (5-12-2011): Hổ - rồng tranh hung.

*****

Ý kiến dân TQ về chiến sự Biển Đông

Dương Danh Dy giới thiệu
BBC - Chủ nhật, 6 tháng 5, 2012

Trung Quốc tập trận (ảnh minh họa)
Trung Quốc đang có căng thẳng biển với nhiều quốc gia
Từ ngày 25/4 đến ngày 28/4 năm 2012, Trung tâm Điều tra Dư luận và Tình hình thuộc Hoàn Cầu Thời báo đã tiến hành điều tra qua phỏng vấn bằng điện thoại với 1,482 người dân từ 15 tuổi trở lên tại bảy thành phố.
Đó là các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Trưòng Sa và Thẩm Dương.
Kết quả được công bố trên Hoàn Cầu Thời báo như sau:
Khi trả lời câu hỏi: liệu Biển Đông có xảy ra chiến tranh hay không, 31% người được phỏng vấn trả lời là “có” hoặc “có khả năng”. 31.6% người cho rằng “không thể”; 26.7% người cho rằng “khả năng không lớn”.
Khi so sánh giới tính của người trả lời thấy, số nam giới trả lời Biển Đông “có” hoặc “có khả năng xảy ra” chiến tranh lớn hơn nữ giới và lứa tuổi từ 30-49 tuổi trả lời “có” hoặc “có khả năng xảy ra” chiến tranh cao hơn các lứa tuổi khác.

Thái độ của Trung Quốc
Đối với vấn đề Trung Quốc nên duy trì thái độ như thế nào trong việc bảo vệ các đảo ở Biển Đông, 42% số ngưòi được hỏi cho rằng nên “áp dụng thái độ kiên quyết, từng buớc khôi phục việc khống chế thực tế đối với đại đa số các đảo bãi”.
28.6% số người được hỏi cho rằng nên “không cần biết giá phải trả như thế nào phải nhanh chóng thu hồi các đảo bãi bị Philippines và Việt Nam xâm chiếm”; 14.6% cho rằng “duy trì hiện trạng, bảo đảm chắc chắn tình hình không xấu hơn nữa” là được, và chỉ có 7.2% người chủ trương “thuận theo tự nhiên, không vì chủ quyền đảo bãi mà xảy ra xung đột dữ dội với Philippines, Việt Nam”. 3.5% người còn lại biểu thị “khó nói”.
Trước câu hỏi “trong các nước có bất đồng trên biển với Trung Quốc, bạn cho rằng khả năng nước nào xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc lớn nhất”, có 30.6% và 28.1% người cho rằng đó là các nước Nhật Bản và Philippines; Việt Nam và Ấn Độ lần lượt là 10.7% và 9.1%; còn Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia và Brunei có tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 3.8%; 1.3%; 0.4% và 0.1%. 3.2% người cho là có khả năng xung đột quân sự với Mỹ và 12.7% người “khó nói”.
Trả lời câu hỏi “liệu bạn có ủng hộ Trung Quốc tiến hành đánh trả quân sự những khiêu chiến và xâm phạm gặp phải trên Biển Đông hay không” đã có 78.5% người biểu thị “ủng hộ” và 16.6% người biểu thị “không ủng hộ”.
Phân tích các câu trả lời còn thấy tỷ lệ nam giới, trung niên trên 30 tuổi và người già trên 50 tuổi biểu thị ủng hộ hành động đánh trả quân sự chiếm đa số.
Đối với câu hỏi: “Tình hình Biển Đông liệu có làm bạn lo lắng tới cục diện lớn phát triển hòa bình của Trung Quốc?" đã có 59.4% người biểu thị: “Không lo lắng”; 39.8% người biểu thị “lo lắng”; còn 1.7% người trả lời “khó nói”.

*****

Bắc Kinh hung hăng làm Hoa kiều gặp khó


BBC - Thứ ba, 22 tháng 5, 2012

Biểu tình chống Trung Quốc ở Manila
Trong khi đang có các tranh cãi và đối đầu về chủ quyền ở Biển Đông, một số nhà quan sát lên tiếng cảnh báo hiện tượng người Hoa ở hải ngoại, nhất là các nước Á Châu, có thể phải hứng chịu làn sóng dân tộc chủ nghĩa không lường trước được.
Philip Bowring, cựu chủ biên tạp chí Far Eastern Economic Review chuyên các vấn đề khu vực (nay đã đình bản), vừa có bài phân tích về khía cạnh này. BBCVietnamese.com mời quý vị tham khảo.
Cây bút kỳ cựu này cho rằng người Trung Quốc ở nước ngoài, nhất là các nước Đông Nam Á, cần quan ngại về thái độ hung hăng của chính quyền trong nước họ tại Biển Đông và cẩn trọng khi có bất cứ biểu hiện gì về ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh.
Một điều mà người nào cũng hiểu là "Ăn cây nào rào cây ấy" - người sinh sống ở nước nào không kể sắc tộc đều được trông đợi trung thành với quốc gia sở tại.
So sánh với các nước khác trong khu vực, người gốc Hoa ở Philippines được cho là hội nhập tương đối tốt. Người Hoa bắt đầu vào Philippines số lượng lớn từ nhiều thễ́ kỷ nay và thông qua hôn nhân với người bản địa họ dần dần thâm nhập vào trong xã hội, tới nỗi ngày nay nhiều khi khó có thể phân biệt được đâu là người gốc Hoa, chí ít là qua tên gọi.
Thí dụ cựu tổng thống Cory Aquino, thân mẫu tổng thống hiện tại, là người gốc Hoa với họ là Cojuangco, nhưng nghe tên không thì khó có ai biết điều này.

Không bỏ nguồn gốc
Một điều đáng chú ý là thế hệ người Hoa mới sang định cư ở các quốc gia khác trong chừng mực nào đó vẫn còn gắn bó chặt chễ với mẫu quốc.
Lý do thì có nhiều, như để làm ăn, hay để giữ trung lập trong các chủ đề gây tranh cãi có liên quan Trung Quốc. Một doanh nhân Philippines gốc Hoa mới đây được dẫn lời nói:
"Cha tôi là Trung Hoa còn cha dượng là Philippines. Hai ông hiện đang có cãi cọ. Việc của chúng tôi là tìm cách hàn gắn bất đồng".

Tổng thống Phippines Benigno Aquino
Thân mẫu tổng thống Aquino là người gốc Hoa
Cộng đồng người Hoa đối diện nhiều đe dọa, nếu như Bắc Kinh bị cho là có thái độ hằn thù với quốc gia sở tại hay sử dụng người Hoa ở nước ngoài để chống lại quốc gia đó.
Người ta còn nhớ tình hình những năm 1965-1966, khi người gốc Hoa thiệt mạng nhiều nhất trong các vụ thanh trừng các nhóm thân cộng sản ở Indonesia.
Tương tự, ở Malaysia năm 1969, làn sóng bạo động của phe cộng sản một thập niên trước đó đã khiến người dân quay sang tấn công người gốc Hoa.
Liệu những gì xảy ra với người Hoa ở Việt Nam sau khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 có nằm trong trào lưu này hay không?
Philip Bowring cho là có, và viết thêm rằng nhiều người Hoa buộc phải ra đi lúc đó.
Trung Quốc và sự trỗi dậ́y về kinh tế của quốc gia này khiến tình hình trở nên phức tạp tại các nơi mà dân nhập cư gốc Hoa đã hội nhập đáng kể.
Nếu như ai đó bị ảnh hưởng bởi làn sóng bài Trung Quốc, thì đó trước hết sẽ là các doanh nghiệp bản địa nhỏ, gốc Hoa.

Sử sách
Trong một bài viết khác, phân tích gia Philip Bowring nhận định rằng cách thức dạy sử của Trung Quốc, nhất là trong các trường học, đã gây khó khăn cho việc giải quyết bất đồng về biển đảo.
Sách lịch sử của Trung Quốc, theo ông, đang có xu hướng bị thay đổi để biện minh cho các hoạt động bành trướng của nước này.
Vụ liên quan Bãi cạn Scarborough là một ví dụ. Bãi này nằm cách Luzon của Philippines 135 hải lý, nhưng cách Hoa Lục tới 350 hải lý.
"Cả hai luồng chứng cứ mà Trung Quốc đưa ra - "người Trung Quốc đã đặt chân tới đó đầu tiên" và "Trung Quốc có bằng chứng lịch sử" - đối với nhiều vùng biển đảo đều không thực sự thuyết phục."
Nó còn nằm trong khu vực Đặc quyền kinh tế của Philippines.
Để minh chứng cho tuyên bố chủ quyền của mình, bất chấp các chi tiết địa lý rành rành ở trên, Trung Quốc quay sang sử dụng cái mà nước này gọi là "bằng chứng lịch sử".
Bằng chứng mà Bắc Kinh đưa ra là bãi cạn, mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham đảo, cùng vùng biển xung quanh, đã được mô tả trong một bản đồ Trung Quốc có từ thế kỷ 13.
Chi tiết một tàu thủy của người Trung Quốc đã cập vào Hoàng Nham và ghi nhận sự tồn tại của bãi đá này trở thành một trong các chứng cứ về chủ quyền.
Trung Quốc cũng chứng minh chủ quyền đối với nhiều hòn đảo bằng cách thức như vậy. Bắc Kinh cũng lớn tiếng tuyên truyền về nhà hàng hải Trịnh Hòa thế kỷ 15, mà Trung Quốc coi là người khai phá nhiều vùng biển mới.
Tuy nhiên, cây viết Bowring chỉ ra rằng lịch sử cho thấy người Trung Quốc thực ra tới Biển Đông muộn hơn so với người nhiều dân tộc khác như người Indonesia, người Mã Lai, Philippines, và cả người Việt.
Người Indonesia có lịch sử viễn dương vượt xa người Trung Quốc: họ đã tới chiếm cứ hòn đảo lớn thứ ba thế giới là Madagascar, cách Indonesia 4,000 dặm cả nghìn năm trước các chuyến đi của đô đốc Trịnh Hòa. Nay ngôn ngữ và dòng nhân chủng của Madagascar có tới 50% là gốc gác Malay.
Tóm lại cả hai luồng chứng cứ mà Trung Quốc đưa ra - "người Trung Quốc đã đặt chân tới đó đầu tiên" và "Trung Quốc có bằng chứng lịch sử" - đối với nhiều vùng biển đảo đều không thực sự thuyết phục.
Philip Bowring cho rằng Trung Quốc có sức mạnh để ép buộc các quốc gia khác phải lắng nghe tuyên bố chủ quyền của mình. Thế nhưng Bắc Kinh cần dừng lại để lắng nghe phản ứng của các nước khác trước khi quá muộn.
*****

Biển Đông không phải là thùng thuốc súng
Vietnam Net - 29/5/2012 18:00 PM
Trung Quốc không tìm kiếm xung đột ở Biển Đông. Thực tế, vẫn có tín hiệu lạc quan.
Trong nhiều tuần qua, thái độ quả quyết của Trung Quốc với Phippines xung quanh đảo Hoàng Nham (mà Philippines gọi là bãi cạn Panatag) ở Biển Đông đã tạo ra mối lo ngại lớn ở châu Á và xa hơn nữa. Với tình hình căng thẳng trong khu vực, hoàn toàn có lý do để hiểu rằng, cuộc tranh chấp lãnh thổ này có thể dẫn tới sự xuống dốc trong quan hệ hai nước.
Tuy nhiên, có ít bằng chứng cho thấy Bắc Kinh tích cực theo đuổi một kết quả như thế. Ngược lại, thậm chí là ở Biển Đông - một điểm nóng tranh chấp (mà giới phân tích còn đề cập có thể là ngòi nổ cho cuộc xung đột châu Á) - vẫn có tín hiệu lạc quan.
Rõ ràng là Bắc Kinh đã sử dụng những biện pháp thẳng thừng hơn với Manila. Nhưng mục đích những hành động như vậy không phải là kích động xung đột quân sự, mà thiên về việc gây áp lực để Philippines đàm phán về tình trạng lãnh thổ ở các vùng tranh chấp. Để cho rõ ràng, Bắc Kinh thể hiện quan điểm hoàn toàn không từ bỏ các yêu sách chủ quyền trong khu vực.
Đã gần hai thập niên trôi qua kể từ cuộc đụng chạm quân sự cuối cùng (dù nhỏ) giữa Trung Quốc và Philippines trong khu vực hàng hải này. Thêm vào đó, ở giai đoạn tương đối yên bình, Trung Quốc đã ký vào Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 - trong đó quy định bổn phận của Trung Quốc (và các bên ký kết khác) chỉ sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng. Nhiều người cho rằng, dù hành xử của Trung Quốc có quả quyết hơn trước, thì xu thế chung trong tiếp cận của Bắc Kinh là thiên về hợp tác hơn xung đột.
Trong khi rất nhiều nhà quan sát hoài nghi về thỏa thuận năm 2002 thì ngay cả người phê bình nó cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc chưa trực tiếp vi phạm khía cạnh nào trong thỏa thuận. Điều đó không có nghĩa là Bắc Kinh sẽ không bao giờ làm thế hoặc mọi thứ đều diễn ra tốt đẹp ở Biển Đông. Nhưng dù sao, nó cũng cho thấy tình hình hiện tại trong khu vực chứa đựng những bằng chứng ổn định.
Bắc Kinh chỉ có thể có hành động khiêu khích hơn nếu giới lãnh đạo cảm thấy bị khiêu khích trực tiếp. Cho dù căng thẳng leo thang hiện tại khiến châu Á lo ngại, thì cũng khó tìm ra được đấu hiệu của một mối đe dọa. Thiếu vắng một chất xúc tác, Trung Quốc sẽ không vứt bỏ các cam kết đưa ra ở Biển Đông thiên về việc sử dụng trực tiếp lực lượng quân sự cho các yêu sách chủ quyền ở những vùng lãnh thổ tranh chấp.
Thú vị hơn là sự “xuống giọng” ít nhiều tại Bắc Kinh có thể nhìn thấy hiện tại. Ví dụ, chiến dịch truyền thông của Trung Quốc chống lại Philippines đã không còn ầm ĩ như vài tuần trước đây. Bắc Kinh cũng giảm bớt những cảnh báo về sự giới hạn của lòng kiên nhẫn hay khuyến cáo những người chơi khác biết rõ vị trí của mình.
Nói rộng hơn, có một số nhân tố đang làm giảm bớt khả năng leo thang của một cuộc xung đột.
Đầu tiên, đã có một số người ở ngay Trung Quốc đã cảm thấy rằng, chính sách Biển Đông hiện tại của Bắc Kinh không còn hiệu quả và khả thi. Cùng trong quan điểm ấy, bắt đầu xuất hiện những tranh luận về nỗ lực cấp quốc gia để phối hợp và tương tác những phần khách nhau trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc. Hơn thế nữa, một số nhà phân tích Trung Quốc thậm chí còn chắc rằng, các hành động khiêu khích của Trung Quốc ở Biển Đông có thể gây thiệt hại đáng kể cái mà họ cảm nhận là “thời kỳ cơ hội chiến lược” của Trung Quốc trong khu vực.
Thứ hai và quan trọng hơn, là không chắc bất kỳ sáng kiến chính sách lớn nào sẽ được công bố trước đại hội đảng của Trung Quốc diễn ra mùa thu này. Các giai đoạn chuyển giao lãnh đạo hiếm khi tạo ra sự thay đổi táo bạo trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Hơn nữa, các trường hợp của Bạc Hy Lai và nhà hoạt động Trần Quang Thành vẫn còn tiếng vang ở Trung Quốc, khó có khả năng Bắc Kinh dám mạo hiểm trong cách cư xử với thế giới bên ngoài. Một bầu không khí bất ổn, một cuộc chiến với một trong những nước láng giềng sẽ chỉ làm tình hình thêm trầm trọng và khiến vị trí của tầng lớp lãnh đạo trở nên bấp bênh hơn.
Tóm lại, khó có thể hình dung sự leo thang căng thẳng hơn nữa giữa Trung Quốc và Philippines. Và, mặc dù sự ổn định hơn nữa là điều khó xảy ra trong ngắn hạn, thì triển vọng của cuộc xung đột quân sự cũng còn ở khá xa.
Thái An (theo Diplomat)
*****

Chuyên gia TQ: Không thể dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp

Nghiên Cứu Biển Đông - Thứ hai, 04 Tháng 6 2012

“Thời báo hoàn cầu” gần đây có bài tổng hợp ý kiến đánh giá của các chuyên gia, cảnh báo về những sai lầm chiến lược mà Trung Quốc trỗi dậy cần phải nghiêm ngặt phòng tránh và những việc cần làm, trong đó có sai lầm tai hại là dựa vào vũ lực để giải quyết tranh chấp.


Khúc Tinh, Viện trưởng Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc: Một Trung Quốc phát triển nhanh cần phải kiên trì phát triển hòa bình không thể sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề tranh chấp, vì: thứ nhất sự tồn tại của nước Mỹ là một hiện thực mà Trung Quốc không thể né tránh, sự chênh lệch về thực lực tổng hợp giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn rất lớn; thứ hai, vũ lực không những không giải quyết được vấn đề, mà thậm chí còn gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn; thứ ba, nếu Trung Quốc giữ được nhịp độ phát triển nhanh toàn diện thì rất nhiều vấn đề khác sẽ có thể dễ dàng được giải quyết; thứ tư, nếu xảy ra chiến tranh sẽ đem lại nhiều tổn thương tai hại lơn cho kinh tế xã hội, làm mất đi lợi thế phát triển nhanh. Tuy nhiên, không sử dụng vũ lực không có nghĩa là để mặc cho người khác tha hồ xâu xé, cũng không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn không sử dụng nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề hiện thực. Nói tóm lại, chúng ta mãi mãi phải giữ cho được mình là dân tộc lớn hòa bình nhưng trong những sách lược cụ thể cần có những ứng xử linh hoạt.

Hoàng Nhân Vĩ, Phó viện trưởng Viện khoa học xã hội Thượng Hải: Trong 10 đến 20 năm tới Trung Quốc có thể bước vào thời kỳ nguy hiểm chiến lược, nhưng vẫn phải đặt cơ hội chiến lược lên hàng đầu, nguy hiểm chiến lược ở hàng thứ yếu. Chỉ có như vậy mới có thể vượt qua thời kỳ nguy hiểm chiến lược. Hòa bình không chỉ có nghĩa là giữa các nước lớn không xảy ra đại chiến thế giới, mà còn đòi hỏi Trung Quốc không được đối đầu với cả thế giới phương Tây, không đối đầu với phân lớn các quốc gia không thể là hình ảnh của một quốc gia hiếu chiến trong dư luận quốc tế.

Cung Lực, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế, Trường Đảng Trung ương Trung Quốc: Đối với sự can thiệp và thách thức từ bên ngoài, Trung Quốc càng phát triển thì biện pháp chống kiềm chế càng nhiều, việc bảo vệ hòa bình cũng sẽ càng có lợi. vấn đề mấu chốt hiện nay là phải kiên trì nhận định chiến lược “hòa bình và phát triển là chủ đề của thời đại”. Trung Quốc gần 30 năm nay tuy phát triển nhanh nhưng trước mắt vẫn chưa chuyển hóa được thực lực tổng hợp qua phát triển nhanh thành khả năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là khả năng giải quyết các vấn đề quốc tế.

Tôn Kiến Hàng, Phó chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Châu Á-Thái Bình Dương, Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng Trung ương: Địa vị của Châu Á-Thái Bình Dương trong bố cục chung của thế giới, nhất là địa vị kinh tế đã có sức nặng hơn, trung tâm kinh tế đang dịch chuyển về Châu Á. Chiến lược trở lại Châu Á của Mỹ vừa nhắm mục tiêu vào Trung Quốc, cũng vừa nhằm hợp tác với Trung Quốc. Một mặt, Mỹ trở lại Châu Á đã làm dấy lên một loạt vấn đề ở xung quanh Trung Quốc, đòi hỏi Trung Quốc phải kiên trì con đường phát triển hòa bình, nhưng cũng phái căn cứ vào tình hình xung quanh, đối phó linh hoạt, kiên quyết bảo vệ lợi ích cốt lõi, nếu không sẽ tạo ra ảnh hưởng mặt trái đối với thời kỳ cơ hội chiến lược. Mặt khác, Mỹ hợp tác với Trung Quốc cũng không hoàn toàn xuất phát từ tình ý giả tạo, vì thông qua hợp tác với Trung Quốc, Mỹ có thể có được lợi ích. Vi thế, Trung Quốc phải học cách lợi dụng nhu cầu này cua Mỹ, thay đổi phương thức tư duy, trong khi giữ vững ngọn cờ hòa bình cũng đồng thời áp dụng nhiều biện pháp đi cùng với Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình tránh một mực khăng khăng né tránh bất đồng hoặc áp dụng khẩu hiệu giáo điều.

Cao Tổ Quý, Giáo sư Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế, Trường Đảng Trung ương: Có 5 cặp quan hệ tam giác chồng lấn và đan xen lẫn nhau ảnh hưởng đến xu hướng chiến lược ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đó là các cặp tam giác Trung – Mỹ – Châu Âu, Trung – Mỹ – Nga, Trung – Mỹ – Ấn, Trung – Mỹ – Nhật, Trung – Mỹ – ASEAN. Trong 5 cặp tam giác nói trên, có hai mạch chủ chốt, đó là mạch quan hệ Trung – Mỹ và sự điều chỉnh chiến lược giữa Nhật Bản, Ấn Độ và ASEAN. Về quan hệ Trung-Mỹ, trong tương lai xu hướng quan hệ chiến lược của hai nước Mỹ-Trung ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sẽ quyết định trực tiếp đến xu hướng quan hệ của cả 5 cặp tam giác nói trên. Về việc điều chỉnh chiến lược giữa Nhật Bản, Ấn Độ và ASEAN thì sự phân hóa và tổ hợp của các nước này và cả nhóm của các nước đó sẽ khiến cho cục diện cũ trở nên phức tạp khác thường. Đứng trước những thay đổi như vậy, Trung Quốc cần phát huy ảnh hưởng kinh tế của mình ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, gắn kết giữa năng lực địa kinh tế với khuôn khổ địa chính trị, đối phó với việc Mỹ thành lập mạng lưới đồng minh và đối tác rộng khắp ở Châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài nước Mỹ, phải đồng thời phát triển quan hệ với nhiều nước lớn như Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, điều chỉnh lại sách lược xử lý quan hệ nước lớn trước đây.

Thiệu Phong, Chủ nhiệm Phòng Chiến lược, Ban Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới-Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: Trình độ phát triển tổng thể của quốc gia mới thể hiện sức mạnh mềm của quốc gia đó. Công tác nghiên cứu chiến lược quốc tế của Trung Quốc hiện nay rất cần giải quyết 4 vấn đề sau: Một là vấn đề về thời cơ chiến lược, Trung Quốc cần nắm vững thời cơ chiến lược như thế nào và giải quyết vấn đề lịch sử để lại ra sao; hai là Trung Quốc có rất ít bạn trên thế giới, nên cần phải thông qua thiết lập quan điểm giá trị chung và lợi ích chung, tranh thủ nhiều bạn hơn trong cộng đồng quốc tế; ba là nâng cao hình ảnh quốc tế của Trung Quốc; bốn là tăng cường xây dựng kinh tế, xã hội của quốc gia.

Vương Hồng Tục, Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu ngoại giao Trung Quốc, Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng Trung ương: Trong khi hoạch định chiến lược quốc tế, môi trường trong nước và môi trường quốc tế đều quan trọng như nhau. Tình hình phát triển của Trung Quốc hiện đang mất cân bằng, sức mạnh mềm về văn hóa lạc hậu nhiều so với phát triển kinh tế, địa vị Trung Quốc ở vào thể yếu về quyền phát ngôn và dư luận quốc tế. Trong tình hình nói trên, chiến lược cơ bản của Trung Quốc được hoạch định trong những năm 80 của thể kỷ trước vẫn cần phải tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên cần phải căn cứ theo tình hình mới và đặc điểm mới đế điều chỉnh thích hợp. Hiện nay Trung Quốc vẫn chưa có chiến lược văn hóa quốc tế một cách có hệ thống.

Trương yến Sinh, Tổng thư ký Hội đồng học thuật – Ủy ban phát triển và cải cách quốc gia: Trong vài năm tới, với tốc độ phát triển như hiện nay thì kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ. Trong tiến trình đó, giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ xuất hiện tình trạng cạnh tranh, Mỹ sẽ bằng mọi cách cản trở Trung Quốc, vì thế đối với Trung Quốc, đây là thời kỳ then chốt trong quá trình phát triển của một nước. Nếu Trung Quốc muốn đối phó được với triển vọng bất lợi như hiện nay thì phải thay đổi phương thức phát triển của 30 năm trước để xây dựng mô hình phát triển trên cơ sở các quy tắc và pháp chế, chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế theo mô hình hướng ngoại sang mô hình quốc tế hóa với các yếu tố về nhân tài, thị trường, tư bản, ngành nghề, tiếp cận với các quy chế quốc tế về các phương diện thể chế, chiến lược và kết cấu, trong đó trung tâm là thay đổi thể chế.

Vương Phàm, Trợ lý Viện trưởng Học viện Ngoại giao Trung Quốc: Xét từ hiện trạng quyền lực và chính trị ở khu vực Châu Á thì tư duy chiến tranh lạnh không thể loại bỏ được, Trung Quốc cần phải giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của tư duy chiến tranh lạnh, dự báo đề phòng và kiểm soát khủng hoảng, đi đến nhận thức chung với Mỹ trong bối cảnh duy trì hiện trạng ở Châu Á. Một mặt tăng cường hợp tác an ninh đa phương, mặt khác tăng cường hợp tác an ninh phi truyền thống, tận dụng triệt để hiện tượng cộng sinh ở Đông Á, giải quyết tốt vấn đề phát triển cân bằng ở Đông Á./.

Theo Hoàn cầu (ngày 11/5)
Lê Sơn (gt)

*****

Giáo dục Việt Nam (GDVN) - 18/06/2012
Trung Quốc muốn chi tiêu khổng lồ cho hải quân và cần vài chục năm nữa để thách thức tầm toàn cầu với Mỹ, nhưng cũng không thể chiến thắng.
Ngày 12/6, Phương Đông báo dẫn nguồn từ tờ “Thời báo New York” Mỹ có bài viết nhan đề “Tránh một cuộc chiến tranh Mỹ-Trung”. Theo bài viết, quan hệ Trung-Mỹ có thể sẽ khiến cho hai nước xảy ra chiến tranh vào một ngày nào đó.
Đầu tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố, đến năm 2020, 60% tàu chiến của Hải quân Mỹ sẽ triển khai ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tháng 11/2011, tại Australia, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố sẽ thành lập căn cứ quân sự của Mỹ ở nước này và khơi dậy thách thức về ý thức hệ với Trung Quốc.

Ông còn nói, Mỹ sẽ “tiếp tục nói thẳng thắn với Bắc Kinh về tầm quan trọng của việc kiên trì các quy tắc quốc tế và tôn trọng nhân quyền”.
Cuốn sách “Sự lựa chọn của Trung Quốc: Tại sao Mỹ cần chia sẻ quyền lực” của Hugh White, chuyên gia các vấn đề quốc tế Australia đã diễn giải về nguy cơ nội tại của Trung-Mỹ và chính sách khu vực hiện nay.
Ông viết: “Washington và Bắc Kinh đã lặng lẽ rơi vào đối đầu”. Để tránh xảy ra xung đột giữa hai nước, Hugh White cho rằng, Trung Quốc và Mỹ cần tiến hành “điều hòa nước lớn” ở châu Á, nền tảng kinh tế được hai bên đồng thuận đã tồn tại.
Rủi ro xung đột hoàn toàn không đến từ việc Trung Quốc theo đuổi tham vọng khả năng lãnh đạo toàn cầu. Ở khu vực ngoài Đông Á, Trung Quốc thúc đẩy chính sách rất thận trọng, chính sách này lấy ưu thế kinh tế làm cốt lõi, không hàm chứa bất cứ nội dung quân sự nào - báo Trung Quốc bình luận.
Một phần lý do kiên trì chính sách này là, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ý thức được rằng, họ muốn có thời gian vài chục năm nữa và chi tiêu hải quân khổng lồ mới có thể tạo ra thách thức mang tính toàn cầu cho Mỹ. Nhưng cho dù đến lúc đó, Trung Quốc cũng hầu như chắc chắn sẽ thất bại.
Ở Đông Á, tình hình lại rất khác. Về lịch sử, hầu hết thời gian, Trung Quốc luôn chủ đạo khu vực này. Khi họ trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới, chắc chắn sẽ muốn làm như vậy. Mặc dù Trung Quốc không thể xây dựng được một lực lượng hải quân thách thức Mỹ ở biển xa, nhưng trong tương lai, họ có thể sản xuất tên lửa, tăng cường lực lượng trên không, đủ để khiến cho Hải quân Mỹ không thể xâm nhập các vùng biển xung quanh Trung Quốc.
Ngoài ra, giữa Trung Quốc và các nước khác trong khu vực còn tồn tại tranh chấp lãnh thổ đảo, đá. Trong các tranh chấp này, chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc và chủ nghĩa dân tộc của các nước khác va chạm lẫn nhau.
Sự thù địch đó là tài sản lớn nhất và cũng là rủi ro lớn nhất của Mỹ. Báo Đông Phương viết, điều này có nghĩa là, hầu hết các nước láng giềng của Trung Quốc muốn Mỹ duy trì sự hiện diện quân sự ở khu vực này. Đúng như Hugh White nói, cho dù Mỹ rút khỏi Đông Á, những nước này cũng không thể “cúi đầu phục tùng” bá quyền của Trung Quốc.
Nhưng nếu Mỹ dốc sức xây dựng đồng minh chống Trung Quốc với các nước này, Washington đang liều lĩnh đưa bản thân cuốn vào tranh chấp lãnh thổ giữa các nước này. Một khi Trung Quốc và một nước nào đó trong khu vực xảy ra xung đột, Washington sẽ đối mặt với sự lựa chọn: Hoặc bàng quan đứng nhìn, danh dự nước đồng minh bị tổn hại; hoặc giao chiến với Trung Quốc - báo Trung Quốc tuyên truyền.
Cho dù là Mỹ hay Trung Quốc đều sẽ không giành được chiến thắng trong chiến tranh, nhưng họ chắc chắn sẽ tạo ra sự phá hoại mang tính tai họa cho nền kinh tế của nhau và thế giới. Nếu xung đột leo thang thành chiến tranh hạt nhân, văn minh hiện đại sẽ bị hủy diệt. Mặc dù duy trì sự đối đầu quân sự và chiến lược lâu dài với Trung Quốc - nước có nền kinh tế mạnh, vị thế trên thế giới của Mỹ cũng sẽ bị suy yếu nghiêm trọng.
Để tránh tình huống này, Hugh White cho rằng, trật tự Đông Á cần thiết lập một giới hạn mà Trung Quốc và Mỹ đều đồng ý không vượt qua: cam kết không được sự đồng ý của đối phương, không sử dụng vũ lực. Điều nhạy cảm nhất là, nếu Trung Quốc tuyên bố từ bỏ sử dụng vũ lực đối với Đài Loan, Mỹ rất có thể sẽ công khai ủng hộ Đài Loan và Trung Quốc thống nhất.
Điều cũng quan trọng tương tự là, Trung Quốc phải thừa nhận tính hợp pháp sự hiện diện của Mỹ ở Đông Á, bởi vì đây là nhu cầu của khu vực này và các nước trong khu vực. Mỹ cũng phải thừa nhận trật tự chính trị hiện nay của Trung Quốc, bởi vì nó giúp kinh tế phát triển và thúc đẩy rất lớn tự do thực sự cho nhân dân Trung Quốc. Trong sự điều hòa đó, Mỹ phải từ bỏ những ngôn từ như của Obama ủng hộ dân chủ hóa Trung Quốc.
Chính như Hugh White nói, sự điều hòa này giữa Mỹ và các nước trong khu vực có thể rất khó sắp đặt, “nếu có sự lựa chọn thay thế không có hại, thì quan điểm này hầu như không đáng xem xét”. Nhưng, Hugh White cũng viết một cách đáng sợ rằng, sự lựa chọn khác có thể cũng tạo ra hậu quả mang tính tai họa.
*****
Chủ nghĩa bành trướng không còn phù hợp với thời đại
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok - 2012-06-26
Sau khi Luật Biển của Việt Nam được Quốc Hội thông qua, ngay lập tức Trung Quốc phản ứng mạnh mẽ bằng nhiều cách trong đó có việc triệu hồi đại sứ Việt Nam tại Bắc kinh đến phản đối, đồng thời nâng cấp quy chế hành chính của 3 quần đảo Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa ở Biển Đông từ cấp huyện lên cấp quận.

Tàu ngầm hiện đại Trung Quốc thường xuyên xuất hiện ở biển đông với ý đồ biểu dương lực lượng - AFP
Mặc Lâm phỏng vấn đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự của đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh để biết thêm quan điểm của ông về vấn đề này.
Phải theo luật của quốc tế bằng luật của mình
Mặc Lâm: Thưa ông, Luật Biển Việt Nam sau nhiều năm nghiên cứu và gặp nhiều trở ngại cuối cùng cũng được thông qua vào ngày 21 tháng Sáu vừa qua. Là người từng làm việc trong vai trò tùy viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh ông có nhận xét gì về bộ luật được xem là quan trọng này.
Đại tá Quách Hải Lượng:Tôi nghĩ Luật Biển ra đời vào lúc này là đúng chứ chẳng phải là sớm mà thật ra có khi đáng lẽ phải ra sớm hơn nữa, bởi vì một đất nước thì mình phải có luật của mình, phù hợp với luật của quốc tế. Muốn bảo vệ biển thì phải theo luật của quốc tế bằng luật của mình. Tôi cho rằng Quốc hội Việt Nam thông qua luật này là đúng lúc, hợp thời cơ.

“ ... một đất nước thì mình phải có luật của mình, phù hợp với luật của quốc tế. Muốn bảo vệ biển thì phải theo luật của quốc tế bằng luật của mình”.

Đại tá Quách Hải Lượng
Mặc Lâm: Thưa ông dư luận quốc tế đã phản ứng tốt với Luật Biển Việt Nam và cho là lời lẽ ôn hòa hợp lý, đặc biệt các điều khoản trong chương 3 rất rõ ràng và phù hợp với công ước về luật Biển quốc tế đối với các hoạt động hàng hải của ngoại quốc. Tuy nhiên Trung Quốc đã nhanh chóng phản đối Luật Biển của Việt Nam, từ Quốc Hội cho tới chính phủ của họ. Ông nghĩ gì về những li phản đối này?

Đại tá Quách Hải Lượng:Tôi nghĩ rằng cái gốc của Trung Quốc là theo đuổi chủ nghĩa bành trướng mà trên thế giới chỉ duy nhất có một mình Trung Quốc là muốn chiếm đất đai, chiếm biển đảo của nước khác chứ còn thế giới người ta không ai giống như họ cả. Cái gốc đó là gốc sai trái nhưng vì họ tự cho là họ đủ sức mạnh cho nên họ cứ làm những việc không phù hợp với ngoại giao quốc tế. Nó không phải là giao hảo quốc tế.

Vệ tinh của công ty DigitalGlobe đã chụp được tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc hôm 8 tháng 12 và đã cho phổ biến hôm 15 tháng 12, 2011

Vệ tinh của công ty DigitalGlobe đã chụp được tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc hôm 8 tháng 12 và đã cho phổ biến hôm 15 tháng 12, 2011/AFP
Trong khi đó họ vẫn nhấn mạnh là đối với Việt Nam thì họ muốn quan hệ hữu nghị, giải quyết bằng thương lượng này khác nhưng với kiểu đó thì chỉ là sự lấn chiếm, hay nói cách khác là hành động xâm lược với hình thức hợp pháp hóa luật pháp của họ. Như thế là không đúng, sẽ không được lòng quốc tế và nhất là đối với người Việt Nam ngày càng thấy rõ dã tâm của họ hơn mà thôi.
Mặc Lâm: Mới đây trong một bài trả lời phỏng vấn ông kể về kinh nghiệm của mình trong trận chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc lúc ấy ông là trưởng phòng tác chiến của quân chủng phòng không. Ông cho là Trung Quốc đã tiến hành thông tin, chiến tranh tâm lý làm cho các cấp lãnh đạo Việt Nam mất cảnh giác đến nỗi lýnh Trung Quốc vào tới Lạng Sơn mà ta vẫn không tin. Thưa những động thái hồi gần đây cho thấy Trung Quốc vẫn đang theo đuổi một chiến lược như vậy đối với Việt Nam trên rất nhiều lĩnh vực. Ông có chia sẻ gì về những dấu hiệu này?

“... cái gốc của Trung Quốc là theo đuổi chủ nghĩa bành trướng mà trên thế giới chỉ duy nhất có một mình Trung Quốc là muốn chiếm đất đai, chiếm biển đảo của nước khác chứ còn thế giới người ta không ai giống như họ cả”.

Đại tá Quách Hải Lượng
Đại tá Quách Hải Lượng: Chính xác là từ xưa tới nay họ vẫn làm thế và vẫn lập đi lập lại như thế và chưa bao giờ họ từ bỏ cách làm này đâu. Chỉ có điều bây giờ đang nằm trong điều kiện mới …
Đối sách mềm mỏng của Việt Nam là hợp lý
Mặc Lâm:Trong điều kiện kéo dài lâu như vậy nhưng xem ra chính phủ vẫn chưa có một giải pháp nào tương ứng để đối phó, theo ông thì biện pháp tốt nhất là gì và nếu được góp ý kiến thì ông sẽ đưa ra điểu gì?
Đại tá Quách Hải Lượng: Những cái này thì tôi chưa có đề nghị gì bởi vì tôi biết chính phủ hoàn toàn có những phương sách đầy đủ để đối phó nhưng chính phủ rất điềm tỉnh trước những hành động vô lý của Trung Quốc. Tôi rất tin tưởng chính phủ và lãnh đạo của Việt Nam các ông ấy đang có đối sách hợp lý. Vì đối với một anh hung hãn như thế thì ta nên mềm mỏng chứ không nên lên gân lên cốt làm gì. Thái độ của chính phủ Việt Nam tôi rất hoan nghênh và tôi cho là sáng suốt.
Mặc Lâm: Như vậy liệu một cuốc chiến như năm 1979 lại xảy ra và lịch sử sẽ được lập lại nếu Việt Nam cương quyết chống lại ý đồ bành trướng như ông nói?

Tàu ngầm Kilo cải tiến và máy bay Sukhoi-30MK2 mà VN mua để hiện đại hóa quân đội by

Tàu ngầm Kilo cải tiến và máy bay Sukhoi-30MK2 mà VN mua để hiện đại hóa quân đội /RFA file/Wikipedia

Đại tá Quách Hải Lượng: Cũng chẳng thể lập lại được đâu bởi vì lịch sử nó qua đi, lần sau nếu nó có trở lại thì cũng chỉ gần gần giống như thế thôi chứ nó không bao giờ lập lại được.

“Tôi rất tin tưởng chính phủ và lãnh đạo của Việt Nam các ông ấy đang có đối sách hợp lý. Vì đối với một anh hung hãn như thế thì ta nên mềm mỏng chứ không nên lên gân lên cốt làm gì. Thái độ của chính phủ Việt Nam tôi rất hoan nghênh và tôi cho là sáng suốt”.

Đại tá Quách Hải Lượng
Mặc Lâm: Cứ cho rằng một kịch bản xấu nhất là Trung Quốc sẽ tấn công chớp nhoáng Việt Nam vì một lý do nào đó mà họ tìm ra. Liệu với khả năng phòng thủ hiện nay Việt Nam có thể cầm cự trong bao lâu để chờ đợi sự nhập cuộc của các phía có quan tâm đối với cuộc chiến trong khu vực thưa ông?

Đại tá Quách Hải Lượng: Điều này nói ra thì hơi rộng. Bây giờ tiềm lực của hai bên anh nào cũng có tiềm lực riêng và Trung Quốc chưa chắc đã biết hết tiềm lực của Việt Nam và Việt Nam cũng chưa thấy hết Trung Quốc nó là cái gì. Thật ra bây giờ dần dần người ta thấy Trung Quốc không mạnh như là họ tuyên truyền đâu. Hơn nữa muốn xảy ra sự kiện gì về xung đột hay không xung đột thì bao giờ nó cũng đi đôi với hoàn cảnh quốc tế mới. Hoàn cảnh quốc tế mới chính là vấn đề cân bằng chiến lược ở khu vực này mà lúc đó thì Trung Quốc không thể hung hãn làm liều được. Tuy vậy họ có thể gây những chuyện nhỏ. Những chuyện nhỏ đó họ gây ra thực sự là cái bẫy, cái bẫy này họ muốn đối phương của họ nếu mắc vào thì bị cho là gây sự trước và từ đó họ sẽ hành động mở rộng ra. Việt Nam không bao giờ bị mắc vào cái bẫy này của Trung Quốc.

Bản đồ cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung Tháng Giêng 1979.

Bản đồ cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung Tháng Giêng 1979 - File photo
Mặc Lâm: Để tránh cái bẫy đó rõ ràng là cho tới nay Việt Nam đã và đang tự chế có khi vượt giới hạn sĩ diện của một quốc gia nhằm tránh các cuộc đổ máu. Thế nhưng Trung Quốc tiếp tục bắt bớ, giết chóc ngư dân Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa. Liệu Việt Nam còn chịu đựng được bao lâu trước dã tâm này thưa ông?

“Những chuyện nhỏ đó họ gây ra thực sự là cái bẫy, cái bẫy này họ muốn đối phương của họ nếu mắc vào thì bị cho là gây sự trước và từ đó họ sẽ hành động mở rộng ra. Việt Nam không bao giờ bị mắc vào cái bẫy này của Trung Quốc”.

Đại tá Quách Hải Lượng
Đại tá Quách Hải Lượng: Cái đó đòi hỏi một sự đấu tranh kiên trì của ta nhất là nhân dân Việt Nam. Họ vẫn kiên cường ra biển. Phần Trung Quốc thì họ biết là họ làm sai chứ không phải là không biết, nhưng họ cứ bắt bừa đi ra cái điều đó là chủ quyền của họ. Họ muốn nói với thế giới là người Việt Nam đi vào vùng đất chủ quyền của họ chứ họ biết thừa là họ làm vậy là sai.
Đúng là ta cũng có những khó khăn thật nhưng nhân dân Việt Nam vẫn cương quyết bám biển. Việc này có thể vẫn tiếp tục xảy ra nhưng cũng có những cái mà Trung Quốc sẽ phải thay đổi nhất là tình hình gần đây tất cả những biến chuyển trong việc cân bằng lực lượng trong vùng Biển Đông này. Trung Quốc càng hung hãn thì càng tạo ra sự liên kết của những nước khác trong khu vực chống lại Trung Quốc. Về lâu về dài họ không có lợi đâu, nếu họ thông minh thì họ nên nghĩ lại.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Đại tá Quách Hải Lượng đã dành thời gian cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.
*****

Bá quyền Biển Đông: Chiến lược hay liều lĩnh?
 - 6-7-2012
Các hành động khiêu khích liên tục của Trung Quốc gần đây khiến tình hình biển Đông vừa dịu xuống lại trở nên nóng hơn bao giờ hết. Và lần này, Trung Quốc vẫn dùng những chiêu thức cũ để xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách ngang ngược.
Từ việc Trung Quốc cắt cáp dầu khí và bắt giữ ngư dân Việt Nam trong năm 2011, huy động một lực lượng lớn tàu cá và tàu ngư chính "chiếm" bãi cạn Scarborough suốt tháng 4/2012, phản đối luật Biển của Việt Nam, thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa và mở thầu chín lô dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong những ngày cuối tháng 6/2012, thoạt nhìn thì tưởng những hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc rất đa dạng, nhưng trên thực tế các hành động này chỉ là các nước cờ cũ dùng đi dùng lại.
Tất cả các nước cờ trên dù lặp đi lặp lại nhưng đều phục vụ cho hai mục đích chính. Thứ nhất là "biến không thành có" để hiện thực hóa các yêu sách chủ quyền vô lý của Trung Quốc trên biển Đông.
Học giả Taylor Fravel thuộc Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT) trong một bài viết gần đây đã nhận đình rằng "Khác với các lô dầu khí mà CNOOC đã mời thầu năm 2010 và 2011, các lô mới này không nằm hoàn toàn trong các vùng biển đang tranh chấp tại biển Đông" và "các công ty nước ngoài có thể sẽ không hợp tác với CNOOC đầu tư vào các lô đang tranh chấp".
Rõ ràng, đây là một nước cờ mà Trung Quốc liên tục đẩy mạnh thực hiện từ khi công bố "đường lưỡi bò" năm 2009 đến nay. Mục đích là để thâu tóm tất cả các khu vực trong "đường lưỡi bò" vốn không hề tranh chấp trở thành vùng tranh chấp. Sau đó sẽ đòi hỏi trên bàn đàm phán.
Từ xưa nay, hầu hết các cuộc đàm phán chủ quyền đều giống như các cuộc "trả giá" mà không bên nào có thể lấy hết các lợi ích và cũng không bên nào chịu tất cả thiệt hại, chỉ là "cò cưa thêm một bớt hai". Nhưng cũng không thể "ăn không nói có", thích chỉ đâu thì chỉ. Cho nên, Trung Quốc mới phải đưa ra các tuyên bố phi lý và ngang ngược nhằm vơ vào càng nhiều vùng tranh chấp càng tốt để ít ra mười vùng tranh chấp cũng được hai, ba vùng. Còn với những vùng không giành được thì cũng có thể yêu cầu "gác tranh chấp, cùng khai thác" như chủ trương nhất quán của Trung Quốc gần 30 năm nay.
Thứ hai, đây là phép thử mà Trung Quốc nhắm tới các nước khác vì hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất lớn vào phản ứng của cộng đồng quốc tế. Nếu các nước có tranh chấp phản ứng thì Trung Quốc đơn giản là bỏ ngoài tai. Các nước trong khu vực đồng loạt phản ứng thì Trung Quốc sẽ tổ chức hội đàm song phương và đa phương để xoa dịu. Còn nếu cộng đồng quốc tế và các nước lớn cùng phản đối thì Trung Quốc sẽ tạm dừng lại, "chờ thời" rồi tiếp tục âm thầm thực hiện.
Nhưng phép thử này không hoàn toàn chỉ là "chờ đợi" phản ứng của cộng đồng quốc tế mà nếu các nước trong khu vực manh động, để xảy ra xung đột do bị khiêu khích thì Trung Quốc sẽ tận dụng cơ hội để lấy cớ gây tranh chấp và xâm chiếm, lúc đó các nước khác muốn giành lại cũng khó vì "sự đã rồi", đúng như nguyện vọng của Trung Quốc.
Giàn khoan mỏ dầu Bạch Hổ của Việt Nam - Ảnh: PVN.
Tựu chung các phép thử này tiệm cận một biến số: nếu chỉ mỗi Việt Nam hay Philippines phản đối, Trung Quốc sẽ bỏ ngoài tai. Nếu các nước ASEAN đứng về phía Việt Nam và Philippines thì Trung Quốc sẽ đưa ra các biện pháp xoa dịu bằng các cuộc hội đàm đa phương, hay song phương với từng quốc gia và thể hiện thái độ hợp tác. Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là phản ứng của Mỹ và đồng minh.
Nếu Mỹ thể hiện thái độ sẵn sàng can thiệp và đứng về phía ASEAN cũng như Việt Nam hay Philippines để yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế thì hầu như Trung Quốc sẽ phải dừng lại. Nếu không vấp phải bất kỳ sự phản kháng trong khu vực hay phản đối từ các nước lớn và cộng đồng quốc tế, Trung Quốc sẽ có thể tiếp tục sử dụng chiến thuật này với các nước khác ở khu vực tranh chấp.
Giải quyết khó khăn quốc nội bằng chiêu bài thống nhất dân tộc, phản ứng lại với việc Mỹ tái cân bằng lực lượng, Việt Nam thông qua Luật Biển hay Philipinnes dựa vào thế lực bên ngoài để "thách thức" Bắc Kinh, các quan điểm về động thái mới của Trung Quốc tại biển Đông đang phân ra thành nhiều nhánh. Điều này cũng tương tự như nhiều luồng ý kiến trái chiều trong lòng nội bộ nước này khi có nhóm đòi "không thể mãi dấu mình chờ thời tự làm tê liệt mình" hay "phải dạy cho Việt Nam và Philipines một bài học để phá vỡ thế bế tắc ở Nam Hải".
Ngược lại có quan điểm của các học giả Trung Quốc đòi hỏi cần đặt lại vấn đề pháp lý "đường lưỡi bò" xem nó là thế mạnh hay chỉ làm Trung Quốc suy yếu hơn, cũng như cách hành xử của nước này tại biển Đông, có thể giúp giành thêm lợi ích hay chỉ càng khiến cho cộng đồng quốc tế phản đối và cô lập Trung Quốc?
Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bảo vệ lợi ích quốc gia là chính đáng, nhưng giành lấy chủ quyền hay cướp đi lợi ích của nước khác bằng phương pháp "bá quyền" thì không có lý do nào chấp nhận được.
Lịch sử Trung Quốc từng thấm nhuần bài học giữa "vương" và "bá". Tấm gương của Mỹ tại Iraq trong tư thế ồ ạt về "cơ bắp" vẫn không thể quy thuận lòng người về một mối. Cơ chế sức mạnh luôn tồn tại hai mặt âm và dương, thiện và ác, tích cực, nhưng cũng lắm hiệu ứng xấu không thể kiểm soát.
Có được đồng thuận từ cộng đồng - cả bên trong, lẫn bên ngoài- sẽ làm cầu nối cho sức mạnh thăng hoa. Ngược lại, đề cao sức mạnh cơ bắp bằng các chiêu bài nghịch với "lòng người" chỉ dẫn đến phản ứng ngược, chuốc lấy thất bại không tránh khỏi. Nhất là khi quá trình phát triển, hiện đại hóa của Trung Quốc đang ở khúc quanh.
Một biện pháp dung hòa để cân bằng nhiều lợi ích đang di chuyển song song một lúc đang cần được Bắc Kinh tính toán lại trước khi các nhóm diều hâu-hiếu chiến đẩy bàn cờ đi xa tầm kiểm soát.
Vũ Thành Công-Nguyễn Thế Phương
*****

Trung Quốc: Hợp tác hay bị 'ra rìa'?
Đất Việt Online - 06/07/2012
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia đã có bài viết đăng trên The Wall Street Journal, bàn về ngoại giao quốc phòng của Việt Nam.
Đất Việt xin giới thiệu với các bạn bài viết này:

Sự cứng rắn của Trung Quốc trong thời gian gần đây tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á đã tạo động lực cho quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Mỹ. Cả hai nước đều có chung mong muốn ngăn chặn Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào muốn thâu tóm tuyến đường thương mại chiến lược trên biển cũng như giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua vũ lực.

Năm 2009, Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào một trò chơi khá nhạy cảm khi cho rằng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực là hợp pháp. Cũng trong năm đó, các quan chức quốc phòng Việt Nam tới thăm tàu USS John C. Stennis để quan sát các chuyến bay của Hải quân Mỹ trong khu vực biển Đông.

Cuối năm 2009, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã ghé thăm Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ tại Hawaii khi trên đường bay đến Washington và chụp ảnh lưu niệm trên một chiếc tàu ngầm của Hải quân Mỹ.
Tàu sân bay USS John C. Stennis
Mối quan hệ của 2 bên tiếp tục được tăng cường khi năm 2010 xưởng đóng tàu của Việt Nam đã sửa 2 chiếc tàu chỉ huy vận tải quân sự của Mỹ. Nhân dịp kỉ niệm 15 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Dịp này, tham tán công sứ Việt Nam tại Washington đã đến thăm tàu sân bay USS George H.W. Bush đang neo đậu tại Norfolk. Ngay sau đó, các quan chức quân sự và chính quyền Đà Nẵng đã thăm tàu USS George Washington để chứng kiến các hoạt động quân sự của tàu này trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại biển Đông.
Cùng thời gian, Việt Nam và Mỹ còn tiến hành diễn tập quân sự chung trên biển. Tàu Hải quân Việt Nam không tham gia vào cuộc diễn tập. Thay vào đó, cuộc diễn tập thực hiện ngay trên tàu Mỹ khi nó neo đậu tại cảng Đà Nẵng. Đây là một phần trong chương trình thăm viếng hàng năm bắt đầu từ năm 2003. Cuộc diễn tập chỉ bao gồm việc huấn luyện phi tác chiến như kiểm soát thiệt hai, tập trận tìm kiếm và cứu nạn, trao đổi kỹ năng làm bếp trên tàu.
Tuy có vẻ không quan trọng nhưng những lần diễn tập chung thế này lại rất cần thiết thực trong việc xây dựng lòng tin. Hiện giờ Việt Nam và Mỹ cùng bàn luận để đưa ra một chương trình luyện tập giúp nâng cao tính chuyên nghiệp cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong tương lai, cả 2 sẽ hợp tác trong xây dựng năng lực hoạt động tại những lĩnh vực đặc biêt như gìn giữ hòa bình, an ninh môi trường, phối hợp tìm kiếm và cứu nạn cũng như ứng phó với các thảm họa trong khu vực. Có thể là Việt Nam sẽ đưa các sĩ quan của mình sang học tập và huấn luyện tại các trường cao đẳng và học viện quân sự tại Mỹ.
Việc Việt Nam sẵn lòng hợp tác vơi Mỹ cũng một phần bởi họ muốn nâng cao năng lực quân sự và tính chuyên nghiệp cho quân đội nước mình để có thể giữ vai trò quan trọng hơn trong việc đảm bảo an ninh khu vực. Về phía Mỹ, các quan chức quân sự Mỹ sẽ cố gắng thúc đẩy mối quan hệ với các bạn đồng nhiệm Việt Nam để đôi bên có thể hiểu nhau hơn và tăng cường được mối quan hệ hợp tác trong tương lai.
Việc làm ấm mối quan hệ quân sự với Mỹ cũng phù hợp với sách lược ngoại giao quốc phòng của Hà Nội. Việt Nam đã có mối quan hệ lâu đời với Nga và Ấn Độ. Hà Nội cũng có chương trình hợp tác với Australia từ năm 1999. Theo đó, Australia giúp Việt nam đào tạo hơn 150 sĩ quan. Hiện Việt Nam cũng đẩy mạnh quan hệ quân sự với Pháp.
Mối quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam cũng có vai trò quan trọng không kém mối quan hệ quân sự Việt - Mỹ. Cả 2 nước đã tiến hành 9 cuộc tuần tra chung tại Vịnh Bắc Bộ từ năm 2006. Năm 2010, hai bên đã tiến hành cuộc diễn tập tìm kiếm và cứu nạn chung trên biển lần đầu tiên. Tàu của Hải quân Trung Quốc đã 3 lần thăm cảng Việt Nam và năm 2010, Hải quân Việt Nam lần đầu sang thăm Trung Quốc.
Việc Mỹ nối lại hợp tác với Việt Nam và một số quốc gia châu Á khác như Indonesia không thể coi là một chiến lược nhằm kiềm chế Trung Quốc. Tổng thống Obama muốn cho mọi người thấy Mỹ họ có trách nhiệm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và sẵn sàng hợp tác với các nước trong khu vực, kể cả Trung Quốc để duy trì an ninh tại đây. Các quan chức quân sự Mỹ vẫn kêu gọi Trung Quốc nối lại mối quan hệ hợp tác quân sự. Trước quan hệ Việt – Mỹ, Trung Quốc phải quyết định liệu họ có muốn hợp tác với cả hai quốc gia, nâng cao năng lực trong việc giải quyết những thử thách an ninh mới nổi hoặc bị “ra rìa” trong xu thế hợp tác an ninh biển.

*****

 

Ruột đau chín khúc


Nguyễn Xuân Nghĩa - Việt Tribune Ngày 120720
Bauxite Việt Nam – 23-7-2012

Bài toán của lãnh đạo Trung Quốc ngoài Đông Hải...
clip_image001
* Những nghịch lý của tham vọng bành trướng *
Đang chuyển mình từ một cường quốc đại lục thành cường quốc hải dương, Trung Quốc gặp rất nhiều mâu thuẫn.
Ngay từ năm 1947, Trung Hoa Quốc dân đảng đã vẽ bản đồ 11 khúc để đòi chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc trên các quần đảo ngoài khơi biển Hoa Nam (biển Nam Hải, hay Nam Trung Quốc hải hay South China Sea, tức là Biển Đông của Việt Nam). Khi ấy, các nước Đông Nam Á còn dồn trọng tâm vào việc tranh đấu cho độc lập nên không có phản ứng. Tầm nhìn quá ngắn!
Các nước cũng chẳng có phản ứng khi Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc ra đời từ năm 1949, thay Quốc dân đảng làm chủ Hoa lục và vẽ thành bản đồ chín khúc để đòi chủ quyền của mình và chính thức công bố từ năm 1953. Khi ấy, các nước Đông Nam Á cũng chẳng có phản ứng, nhiều nước còn nương tựa vào đảng Cộng sản Trung Hoa để giành độc lập! Tầm nhìn tai hại ...
Ngày nay, toàn khu vực Đông Nam Á bị kẹt trong vụ tranh chấp về chủ quyền do Trung Quốc gây ra. Nhưng kẹt nhất không phải là các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á (Malaysia) hay Brunei - hoặc Đài Loan ở phía Bắc.
Kẹt nhất chính là Trung Quốc. Vì sao lại có nghịch lý đó?
*****
Xưa nay, Trung Quốc là đại cường lục địa, với mối quan tâm về an ninh tập trung vào đất liền và những đe dọa ở bên trong. Qua ngần ấy cuộc xung đột trong lịch sử với Việt Nam, hay Chiêm Thành, Triều Tiên và Nhật Bản của các triều Tống, Nguyên Mông, Đại Minh hay Mãn Thanh, thật ra Trung Quốc đều bị đánh bại trong các trận thủy chiến.
Mâu thuẫn đầu tiên của cường quốc này là có bờ biển rất dài, trải dọc từ Hoàng Hải bên bản đảo Triều Tiên xuống tới Vịnh Bắc Việt, mà lại không kiểm soát được vùng biển cận duyên và thường chỉ giữ thế phòng thủ. Nguyên nhân chính là mối nguy cho Trung Quốc không đến từ biển Đông những ngả giao lưu cần thiết cho kinh tế đều nằm trong đất liền. Thứ nữa, tình trạng phân hóa và cát cứ khiến lãnh đạo xứ này phải ưu tiên thống nhất được nội tình trên một lãnh thổ bát ngát.
Sau các trường hợp bị khuất phục vì thủy chiến với Nga, Nhật hay các cường quốc Âu Châu vào đời Thanh, lãnh đạo Trung Quốc vẫn phải ưu tiên củng cố hệ thống cai trị ở bên trong.
Ngày nay, Trung Quốc đang ra khỏi mâu thuẫn truyền thống đó và muốn kiểm soát được vùng biển cận duyên nhờ sức mạnh hải quân thì lại gặp nhiều mâu thuẫn khác.
*****
Sau khi cải cách từ năm 1979, Đặng Tiểu Bình ưu tiên giải quyết các vấn nạn kinh tế và chính trị bên trong để ra khỏi khủng hoảng xây dựng lực lượng. Với bên ngoài, ông chủ trương "thao quang dưỡng hối" nhằm che giấu sức mạnh sau chiến lược hòa dịu với các nước Đông Nam Á: hãy tạm gác một bên những tranh chấp về chủ quyền để cùng hợp tác và khai thác tài nguyên chung ở ngoài khơi. Năm chục năm nữa nói chuyện cũng chưa muộn.
Nôm na thì "cái gì của ta là của ta – cái gì của người thì đôi ta cùng khai thác".
Trong chiến lược âm nhu đó, lãnh đạo Bắc Kinh khéo áp dụng thủ thuật "bẻ đũa từng chiếc": đàm phán song phương với từng nước để tránh phản ứng tập thể, một chiến tuyến chung của các nước Đông Nam Á. Tính toán ở đây là 50 năm sau thì Trung Quốc đã có thực lực khác nên khỏi cần đàm phán hay thương thuyết gì cả.
Quả nhiên là trong hai chục năm liền, dù có tranh chấp hay xung đột nhỏ ở ngoài khơi, kể cả với Việt Nam vào năm 1988, chiến lược hòa dịu hình thức vẫn được áp dụng. Nhưng ngày nay đề nghị "hãy cùng phát triển khu vực có tranh chấp" không đem lại kết quả dự tính. Sau khi tham gia trò chơi đó trong các năm 2004-2005, Phi Luật Tân rồi Việt Nam cũng đành duỗi ra.
Lý do là một mâu thuẫn bất ngờ khác.
Hải quân Trung Quốc lớn mạnh cùng nhu cầu kiểm soát các dòng hải lưu để bảo vệ luồng vận chuyển hàng hóa cho một nền kinh tế đã mở ra ngoài và lệ thuộc vào thị trường quốc tế khiến các nước đều e ngại. Quy tắc ứng xử ngoài biển Đông ký kết với Hiệp hội ASEAN 10 quốc gia Đông Nam Á vào năm 2002 vẫn không trấn an được.
Đã thế, khi Hoa Kỳ vướng bận vào cuộc chiến chống khủng bố từ 2001, lãnh đạo quân sự Trung Quốc còn nhìn ra cơ hội bành trướng và dẫn tới phản ứng ngược: các quốc gia Đông Nam Á đều kêu gọi Hoa Kỳ trở lại giữ thế đối trọng với đà bành trướng của Trung Quốc. Mà không chỉ các nước Đông Nam Á đang có tranh chấp về chủ quyền trên vùng biển chín khúc của Trung Quốc.
Cái lưỡi bò chín khúc của Trung Quốc khiến cho chín quốc gia cùng nhìn thấy một mối nguy. Đó là Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai Á, Brunei và cả Đài Loan. Ngần ấy quốc gia đều trông đợi vào phản ứng của Hoa Kỳ, nay đã xác định vai trò cường quốc Á Châu và nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ quyền tự do lưu thông ngoài biển.
*****
Chúng ta đi tới các bài toán hiện tại của Bắc Kinh, trong giai đoạn mà tiến thoái gì cũng bất tiện.
Từ chiến lược không can dự vào nội tình xứ khác, lãnh đạo Bắc Kinh đang ráo riết mua chuộc, uy hiếp hay lũng đoạn từng nước. Nghĩa là chứng tỏ bản chất đế quốc của một nước vẫn đề cao tinh thần "quật khởi hòa bình" để ra khỏi tình trạng lạc hậu.
Lập luận truyền thống của mấy chục năm qua, rằng Trung Quốc là một nước kém phát triển, nạn nhân của liệt cường và nay đang cố gắng công nghiệp hoá trong tinh thần hiếu hòa, lập luận đó đã hết công hiệu. Và trên các diễn đàn quốc tế lẫn trong dư luận các nước kém phát triển Á, Phi hay Trung Nam Mỹ, Trung Quốc có bộ mặt thực dân đế quốc. Đấy là một bài toán về lý luận với hậu quả phản tuyên truyền. Đó là bài toán thứ nhất.
Chuyện thứ hai, chiến lược đối thoại song phương để bẻ đũa từng chiếc cũng thất bại và khi Bắc Kinh chuyển qua giải pháp đối thoại quốc tế thì gặp kết quả trái ngược.
Người ta cứ nói đến phản ứng của Cam Bốt trong hội nghị tuần trước của khối ASEAN khi tránh nêu vấn đề tranh chấp ngoài Đông hải và coi đó là một thắng lợi của Bắc Kinh - chiếc đũa Cam Bốt đã gẫy.
Thật ra, nhận thức của các nước về lập trường ngoại giao của Bắc Kinh đã xoay chuyển. Thế giới thấy Trung Quốc dùng thủ thuật song phương để lũng đoạn từng nước, đến khi bước vào giải pháp đối thoại đa phương trên các diễn đàn quốc tế, cường quốc này có chủ đích phá hoại. Càng dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để bênh vực Iran hay Syria, hoặc có lập trường ngoại giao nhằm bao che cho Bắc Hàn, Sudan hay Venezuela, Bắc Kinh càng cho thấy Trung Quốc không là một cường quốc hữu trách và biết điều. Đấy là bài toán thứ hai.
Sau hai chục năm chỉ nhìn thấy quyền lợi của mình trong mối quan hệ với các nước và bị bất ngờ khi các chế độ thân hữu bỗng dưng sụp đổ, Bắc Kinh đang muốn xoay qua một đường lối chủ động và tích cực hơn.
Lãnh đạo Bắc Kinh đã bị bất ngờ tại Sudan, khi thân chủ bị xé làm hai, với sự xuất hiện của Cộng hoà Nam Sudan trên một vùng đất nhiều tài nguyên và được Tây phương bảo vệ. Bắc Kinh cũng bị bất ngờ khi chế độ độc tài Muamar Ghaddafi bị sụp đổ tại Libya. Những trường hợp trở tay không kịp như vậy xảy ra nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Ngày nay, Bắc Kinh đang muốn chuyển qua chiến lược khác, là chủ động xử lý các hồ sơ liên quan đến quyền lợi của mình thay vì mơ hồ đề ra những nguyên tắc chung chung.
Kết quả là không chỉ nói về "cửu đoạn tuyến" ngoài Đông Hải, Bắc Kinh chủ động trưng bày sức mạnh. Cùng với việc nâng cấp hành chính cho Tam Sa, Trung Quốc đưa tàu ngư chính và hải đội của mình vào vùng tranh chấp với Phi Luật Tân và Việt Nam, xẵng giọng với Nhật Bản vì hồ sơ Điếu Ngư Đài (Senkaku của Nhật). Hậu quả của sự chuyển hướng chủ động ấy là gây hấn với mọi quốc gia và càng khiến Hoa Kỳ có lý do chính đáng để xác định vị trí và sức mạnh trên vùng biển Thái Bình Dương, từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Đấy là bài toán thứ ba.
Trên toàn cảnh, lãnh đạo Bắc Kinh còn thấy mình thất thế do chiến lược "vô tư trung lập".
Đặng Tiểu Bình từ bỏ chủ trương cách mạng toàn cầu và thường trực của Mao Trạch Đông và chấm dứt yểm trợ các phong trào cộng sản trên thế giới, nhất là tại Á Châu. Ông còn tích cực hơn vậy khi đưa ra lập trường trung lập: Trung Quốc không can dự vào tranh chấp của các nước, không liên minh với một phe để tấn công một phe thứ ba, và giữ thái độ vô tư với mọi phe.
Trong khi ấy, Hoa Kỳ tích cực phát triển quan hệ với một chuỗi quốc gia bán đảo, hải đảo hay quần đảo chung quanh lãnh thổ Trung Quốc, từ Nam Hàn, Nhật Bản đến nhiều nước Đông Nam Á qua tới Ấn Độ dương và Úc Đại Lợi. Kết cuộc thì Bắc Kinh thiếu bạn mà Mỹ lại có nhiều đồng minh! Lãnh đạo Bắc Kinh phải tính lại.
Trung Quốc bắt đầu xuất hiện như một đối tác đáng tin của quốc tế khi cần ngăn ngừa hải tặc hay khủng bố và tìm cách hợp tác với các nước, từ nhóm ASEAN+3 (với Nam Hàn và Nhật Bản), đến Pakistan và cả Ấn Độ. Nhưng làm sao xây dựng được sự khả tín với các nước khi Bắc Kinh cũng chủ động can thiệp và xác định sức mạnh của mình trong khu vực có tranh chấp? Đấy là bài toán thứ tư.
Chúng ta không đánh giá thấp trình độ tư duy và khả năng biến báo của lãnh đạo Bắc Kinh, nhưng có thể tự hỏi vì sao họ rơi vào những mâu thuẫn khó gỡ và nay đang gặp bốn bài toán kể trên? Một giải đáp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này có thể tìm thấy ở bên trong nội tình Trung Quốc.
*****
Lãnh đạo Bắc Kinh muốn áp dụng giải pháp ôn nhu để mời các nước – và doanh nghiệp quốc tế - cùng hợp tác và phát triển. Trong hợp tác, họ muốn các nước ít nhiều công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng tranh chấp. Kết quả xảy ra trái ngược với dự tính: các quốc gia đều nghi ngờ và phản đối. Nhiều nước đối tác đã xoay ngược lập trường, như Phi Luật Tân dưới sự lãnh đạo của một Tổng thống khác, chứ không dễ mua dễ bảo như Gloria Macapagal-Arroyo.
Khi xẵng giọng và dùng sức mạnh quân sự bù đắp cho thế yếu về ngoại giao, nghĩa là tự lột trần bản chất bành trướng, Trung Quốc chỉ lung lạc nổi các nước nhỏ và yếu, ở ngoài vòng tranh chấp – như Lào hay Cam Bốt – nhưng gây phản ứng mạnh từ các nước khác.
Khi cần xoa dịu dư luận quốc tế và trở lại luận điệu ôn hoà thì lãnh đạo Bắc Kinh gặp phản ứng từ bên trong: ngư phủ Trung Quốc liều lĩnh lấy những rủi ro có thể dẫn tới xung đột và các tướng lãnh lại nhân cơ hội nhấn tới.
Trong khi chuẩn bị Đại hội 18 để đưa một thế hệ mới lên lãnh đạo Trung Quốc, đảng Cộng sản Trung Hoa cần xoa dịu sự bất mãn lan rộng của quần chúng bằng lý luận dân tộc cực đoan và bằng tư thế cường quốc trước diễn đàn quốc tế. Đồng thời, ngần ấy phe đang vận động ngầm ở bên trong để củng cố thế lực sau Đại hội 18 đều cần tới hậu thuẫn của quân đội. Và để các tướng lãnh lên giọng đề cao giải pháp bá quyền nước lớn!
Chính là những bất trắc nội bộ trong giai đoạn giao thời này, khi Bắc Kinh phải chuyển hướng đối ngoại, mới khiến Trung Quốc lâm thế kẹt. Bung ra thì bị thiên hạ tri hô và chặn cửa, thu vào thì gặp sự chống đối ở bên trong! Đi vào húng hắng, đi ra vội vàng ...
N. X. N.

*****

Trung Quốc với tham vọng bá chiếm tài nguyên biển
 - 23-7-2012
Để duy trì vị thế chính trị đang lên trên trường quốc tế, Bắc Kinh phải đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế như trong thời gian vừa qua. Điều này đòi hỏi một lượng tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, Trung Quốc phải vươn ra biển. Dưới đây là bài viết của nhà nghiên cứu Kailash K. Prasad, thuộc Nhóm chính sách Dehli (Dehli Policy Group) đăng trên The National Interest của Ấn Đ số ra ngày 6/7 vừa qua.
Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP) đã giành được uy tín lớn từ việc đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách vượt bậc. Sự phát triển nhanh chóng này dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, những người đánh giá cao thành tựu của CCP cũng không thể không tính đến sự đảm bảo một dây chuyền cung cấp năng lượng để duy trì vị thế chính trị hiện đang lên cao nhất như hiện nay. Và điều này dẫn đến việc Bắc Kinh đã yêu cầu lượng dầu mỏ, kim loại và khoáng sản nhiều hơn số lượng mà họ hiện sở hữu, khiến quốc gia này phải ôm tham vọng vươn ra biển xa.
Vì Trung Quốc xây dựng tổ hợp kinh tế có lợi ích chiến lược tại châu Phi và Trung Đông do vậy vấn đề tự do của ngành hàng hải thông qua Ấn Độ Dương và nhiều nơi tại Thái Bình Dương sẽ là mối quan tâm lớn nhất của Bắc Kinh. Không có gì là ngạc nhiên khi nước này lo lắng về việc chia sẻ trách nhiệm an ninh hàng hải gần biên giới với họ.
Khi xem xét đến sức mạnh tương đối của đội tuần tra biển, chủ yếu là sự tham gia của Nhật và Mỹ, Trung Quốc lo ngại rằng trong thời điểm khủng hoảng việc tiếp cận đường vận tải biển quan trọng sẽ bị ngăn chặn. Hoặc tồi tệ hơn Bắc Kinh có thể buộc phải thỏa hiệp về mặt chủ quyền đối với những khu vực mở rộng mà lịch sử cho rằng đã có từ trước nhưng chưa được luật pháp quốc tế cho phép.
Trước đây, Trung Quốc đã nỗ lực hết sức để thực hiện tham vọng có thể thống trị vùng biển. Xét tương quan lực lượng hiện có trên vùng biển trên ta thấy. Tổng trọng lượng của hạm đội tàu lớn nhất thế giới gồm 21 chiếc là 6.75 triệu tấn. Trừ trọng tải đội tàu của Mỹ thì đội tàu còn lại của thế giới chiếm 46% và rơi vào khoảng 3.63 triệu tấn. Nếu tính về trọng lượng cũng như số lượng, thì số tàu Mỹ hiện có cũng không hẳn đã vượt trội. Trên thực tế, sau 3 thập kỷ hiện đại hóa ngành hàng hải một số tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và có khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc còn lạc hậu hơn so với của các tàu khác trên thế giới. Họ mới đang học cách sử dụng tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm (ASBM). Chỉ có hệ thống ASBM mới mang lại cho Trung Quốc khả năng cạnh tranh.
Báo cáo của Bộ quốc phòng Mỹ cho biết phạm vi hoạt động của tên lửa này có thể bay xa 1,000 dặm (1 dặm bằng 1.6 km). Ngay cả khi máy bay chiến đấu trang bị cho hải quân thế hệ mới không thể quay trở lại tàu sâu bay nếu chúng được phóng xa hơn so với mục tiêu ban đầu là 600 dặm thì vẫn có thể ngăn chặn sự tiếp cận của đối phương từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong tương lai gần, tham vọng vươn ra biển xanh dường như không thể đạt được. Một tàu sân bay vừa được nâng cấp từ thời kỳ Liên Xô cũ, vài tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm và một vài tàu ngầm hạt nhân sẽ không cho phép Lực lượng hải quân quân đội giải phóng nhân dân (PLAN) tiến hành diễn tập ngoài khơi bờ biển nước này, thậm chí ngay khi thủy thủ Trung Quốc có thể điều khiển được con tàu mới của họ.
Phần lớn hoạt động của PLAN là ngăn chặn sớm nên tác động chủ yếu của nó là mang lại lợi ích cho đất liền. Hạm đội tàu lớn nhất là Song, Ming và Romeo đều là tàu ngầm hoạt động bằng động cơ điện diesel, bến tầu tiếp đất và vũ khí tầm ngắn khác cũng như vũ khí được trang bị trên bờ sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các quốc gia lân cận đặc biệt là vũ khí tương thích hơn với Trung Quốc và Mỹ.
Trung Quốc cũng rất mong muốn các quốc gia láng giềng chung đường biển đi theo chiến lược hiện đại hóa hải quân. Sự ủng hộ như vậy là rất cần thiết sau khi có sự tổn thất rõ ràng ở Burma - vốn là hành lang năng lượng thay thế của Trung Quốc và điều này làm cho một số người ở Bắc Kinh suy nghĩ một cách thận trọng về việc thiết lập mối quan hệ tinh tế, và "xa xỉ" để đảm bảo cho nguồn tài nguyên của mình.
Nếu Trung Quốc có thiên hướng về việc tiếp tục chạy đua vũ trang theo kiểu sự kiện đã nhận thấy trên đảo Scarborough phần nhiều sẽ khó có thể thúc đẩy được tham vọng về mặt hải quân của mình. Lực lượng ở xa hơn như Ấn Độ và Australia phải đối mặt với lực lượng PLAN được trang bị nhiều hơn. Lời hùng biện từ Trung Quốc sẽ cung cấp một ít sự bảo đảm. Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nhận ra rằng tốt hơn là họ nên cân bằng sự đối trọng với năng lực đang phát triển của Trung Quốc về hải quân thay cho việc các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh sẽ không hành động theo sự bất mãn của họ trên thực tế. Australia cũng bắt đầu giai đoạn hiện đại hóa tàu ngầm với trị giá lên đến 40 tỷ USD. Ấn Độ gần đây cũng đã nhận đợt giao hàng 1 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân mang tên Akula của Nga và hiện cũng đang xây dựng tàu ngầm bằng năng lượng hạt nhân của chính nó và tàu sân bay khác. Nhật Bản đang khuếch trương hạm đội tàu ngầm lần đầu tiên trong 36 năm qua. Hàn Quốc cũng đang hiện đại hóa lực lượng hải quân và lục quân của họ.
Cái giá của việc tính toán sai lầm là rất cao và nó cũng rất khó để nhận ra môi trường như vậy sẽ không có lợi cho Trung Quốc. Về mặt hình thức, lực lượng hải quân mạnh sẽ cho phép Bắc Kinh giảm gánh nặng trong việc chạy đua. Tuy nhiên, nếu việc hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc buộc các nước trong khu vực cũng phải hiện đại hóa và nếu một số nước làng giềng mạnh hơn trong khu vực có khả năng sánh kịp Trung Quốc thì rất khó để nhận thấy lợi thế của PLAN trong việc đạt được mục tiêu dài hạn và sự thống trị ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khó có thể đạt được. Bất kể sự thua kém nào của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh dễ tổn thương và bị cô lập hơn với một sân sau đầy sự nghi ngờ và cạnh tranh.
Hằng Linh theo The National Interest
*****
Sự hoang tưởng về chủ quyền của TQ
Đất Việt Online - 25/07/2012
Yêu sách hết sức phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông cùng luận điệu tuyên truyền ngụy tạo chứng cứ đang khiến nhiều người liên tưởng đến câu nói nổi tiếng của Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc xã.
Goebbels nói rằng: "Nếu nói dối đủ to và cứ tiếp tục lặp đi lặp lại lời dối trá của mình, quần chúng rồi sẽ tin vào lời dối đó”. Đó là thủ thuật nói dối đúng lúc, nói dối nhiều lần với tham vọng bá quyền độc chiếm Biển Đông. Diễn biến phức tạp trên Biển Đông cùng bản chất ngụy tạo chứng cứ thô thiển về chủ quyền lãnh thổ theo kiểu "biến không thành có”, biến vùng không tranh chấp trở thành vùng tranh chấp của Trung Quốc đang làm cho nhu cầu của chính người dân Trung Quốc muốn hiểu rõ sự thật lịch sử trở nên bức thiết. Lịch sử Trung Quốc hiển nhiên khẳng định lãnh thổ quốc gia này không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Lãnh thổ Trung Quốc qua các triều đại được ghi dấu bằng các bản đồ như "Hoàng triều dư địa toàn đồ” (1728-1729), "Hoàng triều nhất thống dư địa toàn đồ” (1894), và "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản năm 1904 của Trung Quốc được công bố thời nhà Thanh (do Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904) là những chứng cứ lịch sử không thể chối cãi, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nhiều chứng cứ, trong đó có các bản đồ của chính Nhà nước Trung Quốc công bố với cả thế giới thể hiện rõ ràng cực nam lãnh thổ của quốc gia này chỉ đến đảo Hải Nam. Cũng như sử sách của Trung Quốc đã khẳng định rõ cực nam của Trung Quốc là núi Nhai (Nhai Sơn hay Thiên Nhai Sơn) nằm phía nam Nhai Châu (đảo Hải Nam ngày nay) ở vị trí 18030’ vĩ độ Bắc. Những chứng cứ lịch sử như vậy không thể xóa bỏ, không thể bị bóp méo nhằm mục đích thực hiện yêu sách "đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông. Trong khi đó, ít nhất từ thời Chúa Nguyễn, Việt Nam đã thực thi chủ quyền thường xuyên và ổn định ở Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với bản đồ, còn nhiều chứng cứ lịch sử khác khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa
Thế nhưng, với yêu sách hoang đường của Trung Quốc trên Biển Đông thời gian qua người dân Trung Quốc chỉ được tiếp cận những chứng cứ ngụy tạo do chính quyền Trung Quốc cố tình đưa ra. Người dân Trung Quốc không có điều kiện để biết rõ thực chất các chứng cứ lịch sử - khẳng định chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Giới trí thức tiến bộ ngay tại Trung Quốc cũng đã phải lên tiếng về chủ quyền ngụy tạo "biến không thành có” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa, với cả "đường lưỡi bò” phi lý chiếm gần trọn Biển Đông. Tuy nhiên những tiếng nói trung thực đúng đắn ấy ngay "trong lòng Trung Quốc” vẫn bị trùm phủ bởi luận điệu ngụy biện về chủ quyền qua các kênh truyền thông ở Trung Quốc. Sự tưởng tượng về chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc thậm chí còn lọt vào các trang sách giáo khoa giảng dạy ở trường học và nhiều tài liệu khác. Sự nói dối động trời nếu được lặp đi lặp lại vẫn sẽ có người tin. Câu chuyện nỗi tiếng "Tăng Sâm giết người” thời Xuân Thu với sự lặp đi lặp lại những thông tin giả dối đã khiến mẹ của Tăng Sâm tin con mình phạm tội tày đình - dường như đang được tái lập trong kỹ thuật truyền thông của Trung Quốc về chủ quyền hoang đường trên Biển Đông. Trung Quốc bị nhiều quốc gia phản đối khi chính thức đưa ra yêu sách "đường lưỡi bò” bằng Công hàm CML/17/2009 được gửi lên Liên Hợp Quốc ngày 7-5-2009 nhưng Trung Quốc không nêu được cơ sở pháp lý chặt chẽ nào. Vậy nhưng, quốc gia này vẫn ngông nghênh triển khai các hoạt động gọi là "chấp pháp trên biển” trong phạm vi "đường lưỡi bò” phi lý. Trung Quốc đã không ngần ngại gửi các đoàn đến các nước để thuyết trình với những chứng cứ ngụy tạo về chủ quyền với biển Đông, với Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng cách ấy, Trung Quốc đang cố tình làm cho dư luận lầm tưởng Trung Quốc có quyền đối với vùng biển mà Trung Quốc đã tuyên bố, nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế thừa nhận sự tồn tại của "đường lưỡi bò”. Các dữ liệu ngụy tạo thất thiệt của Trung Quốc đã được kỹ thuật truyền thông tại quốc gia này gieo vào lòng tin của người dân Trung Quốc về chủ quyền tưởng tượng của họ trên Biển Đông mà mới nhất là cái gọi là "thành phố Tam Sa” được thành lập. Luận điệu nói dối đã phát huy hữu hiệu, những viên đạn truyền thông đã bắn vào tâm tưởng người dân Trung Quốc khiến cho nhiều người trong số họ ngộ nhận rằng Việt Nam "xâm chiếm” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước sự ngụy tạo chứng cứ tuyên truyền sai trái của Trung Quốc, cộng đồng thế giới rất cần được tiếp cận các tài liệu về sự thật lịch sử và những căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Dù Việt Nam luôn kiên trì với đường lối hòa bình, hành xử phù hợp với pháp luật quốc tế, không sử dụng vũ lực, nhưng cần tăng cường hoạt động chấp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thiết nghĩ, chân lý sẽ soi sáng khi các vụ việc Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, công khai, khách quan tại Tòa Trọng tài Quốc tế, để cộng đồng quốc tế thấy rõ chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chu Ninh/Đại đoàn kết
*****

Trung Quốc đưa tin về bản đồ nhà Thanh không có Hoàng Sa
Đà Nẵng Online - Thứ Bảy, 28/07/2012
Báo chí Trung Quốc đưa tin Việt Nam công bố bản đồ cổ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, nhận được nhiều sự quan tâm theo dõi của người dân Trung Quốc.
Các cơ quan truyền thông lớn của Trung Quốc như Sina , Ifeng, Stockstar đưa tin Việt Nam tìm thấy bản đồ thời nhà Thanh của Trung Quốc, chứng minh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam. Nhiều báo khác của Trung Quốc sau đó đăng tải lại thông tin này.
Bản tin của đài Phượng Hoàng (Ifeng) tường thuật quang cảnh buổi lễ trao bản đồ cổ "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" (Toàn bộ bản đồ địa lý của đất nước) do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904 của tiến sĩ Mai Ngọc Hồng trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.
Ifeng dẫn nguyên văn lời tiến sĩ Hồng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam, nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện của Viện Hán - Nôm, về giá trị lịch sử và nội dung không thể chối cãi của bản đồ do chính Trung Quốc thực hiện.
Tờ Stockstar và trang tin quân sự của Sina giới thiệu tỉ mỉ về kích thước, lai lịch của tấm bản đồ, nói rõ bản đồ này xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc, có nghĩa là các quần đảo ở Biển Đông như Hoàng Sa, Trường Sa nằm ngoài lãnh thổ Trung Hoa.
Bài báo cũng diễn giải đầy đủ các nghiên cứu và phân tích của tiến sĩ Mai Ngọc Hồng, nhà sử học Dương Trung Quốc cho hay bản đồ "có yếu tố mới về mặt pháp lý". Đây là bản đồ được Trung Quốc vẽ theo phương thức hiện đại của phương Tây, khác với cách vẽ theo cách riêng trước kia, có ghi rõ tọa độ, phù hợp với ngôn ngữ bản đồ hiện nay.
Đặc biệt, Stockstar dùng tên gọi theo cách của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi truyền thông Trung Quốc hiếm khi công bố với người dân về cách gọi nào khác ngoài tên gọi mà nước này đặt ra.
Chỉ trong chưa đầy hai ngày đăng thông tin về tấm bản đồ này, các video về chủ đề này của Ifeng và Sina đưa lên trang web đã thu hút gần nửa triệu lượt xem, còn bản tin phát sóng trên truyền hình và các trang tin khác đưa lại còn thu hút thêm nhiều người xem khác.
Đây là sự kiện đáng chú ý trong bối cảnh tình hình tranh chấp trên biển của Trung Quốc với các nước láng giềng ngày một nóng. Nước này có có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei trên Biển Đông và với Nhật Bản trên biển Hoa Đông.
Trong khi một bộ phận người dân Trung Quốc luôn tin rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, truyền thông nước này cũng đăng tải các ý kiến nhiều chiều, như thông tin về bản đồ 1904 này của nhà Thanh, hoặc quan điểm không công nhận "đường lưỡi bò" như của học giả Lý Lệnh Hoa.
VnExpress
*****
Vì sao Trung Quốc 'ngang nhiên' ở Biển Đông?
 - 30-7-2012
Những diễn biến gần đây ở khu vực tranh chấp Biển Đông cho thấy Trung Quốc đang theo đuổi một “chuỗi phản ứng quyết liệt” trong cách tiếp cận ở vùng biển này.
Tác giả bài viết, Stephanie Kleine-Ahlbrandt, là giám đốc dự án Đông Bắc Á của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế.
 
Bắc Kinh đã phản ứng quyết liệt trong một phép thử diễn ra ở bãi cạn Scarborough tranh chấp với Philippines từ đầu tháng 4. Nhân việc Philippines dùng tàu chiến trong vụ việc liên quan tới tàu cá, Trung Quốc đã tận dụng cơ hội để khẳng định chủ quyền của họ với bãi cạn bằng cách triển khai các tàu thực thi pháp luật phi quân sự và cho phép chúng neo đậu lâu dài trong khu vực.
Bắc Kinh không ngại ngần dùng áp lực kinh tế với Manila khi thắt chặt quy định nhập khẩu hoa quả nhiệt đới, gây tổn thất khoảng 34 triệu USD cho Philippines.

Bắc Kinh cũng công bố hàng loạt quy định hàng hải mới bao trùm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Khi những quy định ấy còn chưa ráo mực, Trung Quốc tuyên bố thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”nhằm thiết lập phạm vi quản lý với một khu vực rộng lớn kể cả những nơi tranh chấp với Việt Nam và Philippines. Đầu tuần này, Bắc Kinh còn cho phép bộ Tư lệnh quân sự Quảng Châu thành lập một đơn vị đồn trú ở “Tam Sa”.

Cũng là một phần của hàng loạt hành động gây hấn, cuối tháng 6, Bắc Kinh quyết định cho phép một trong những tập đoàn dầu khí nhà nước, CNOOC, mời các công ty năng lượng nước ngoài bỏ thầu những dự án cùng thăm dò ở nhiều phần trên Biển Đông thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Khi Trung Quốc ngày càng lấn lướt trong cuộc chơi, người ta hy vọng các nước ASEAN sẽ thống nhất quan điểm về vấn đề tranh chấp. Nhưng sự thật thì ngược lại. Tại cuộc gặp các ngoại trưởng khu vực diễn ra đầu tháng ở Phnom Penh, Trung Quốc đã tận dụng cơ hội làm yếu đi sự đoàn kết của tổ chức này. Họ dùng ảnh hưởng khiến Campuchia, chủ tịch luân phiên ASEAN, ngăn chặn cuộc thảo luận thực sự có ý nghĩa về tranh chấp ở Biển Đông, thậm chí khiến lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm, ASEAN không ra được tuyên bố chung.
Tàu khu trục số hiệu 560 của Trung Quốc đã mắc cạn trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines - Ảnh: Getty Images

Ngay khi cuộc gặp ở Phnom Penh kết thúc đáng thất vọng, thì hàng loạt báo chí đã đưa tin về việc một tàu khu trục hải quân Trung Quốc mắc cạn gần bãi Trăng Khuyết - chỉ cách đảo chính Palawan của Philippines 110 km. Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố, con tàu chỉ thực hiện nhiệm vụ tuần tra thông thường mặc dù nơi mà nó mắc cạn hoàn toàn nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Tàu khu trục này có khả năng là một phần các chuyến tuần tra theo như mô tả của người phát ngôn quân đội Trung Quốc là “sẵn sàng chiến đấu” ở BiểnĐông.

Điều tàu quân sự tới vùng nước tranh chấp cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy, Trung Quốc đã thay đổi từ việc sử dụng tàu thực thi pháp luật để phản ứng với những sự cố gần đây kiểu như ở bãi cạn Scarborough.

Cách tiếp cận trắng trợn hơn của Trung Quốc có thể được giải thích một phần bằng thực tế là, họ không hài lòng với những gì thu được từ sự thay đổi chiến thuật năm 2011- đặt trọng tâm hơn vào ngoại giao biển tiếp theo những hành động quả quyết.

Chính trị trong nước cũng góp phần vào thái độ của Trung Quốc ở Biển Đông. Trước đó, khi công chúng hoang mang vì bê bối Bạc Hy Lai, thì sự cố ở bãi cạn Scarborough cung cấp cơ hội tiện lợi nhằm tạo ra sự phân tâm, đánh lạc hướng dư luận. Còn giờ đây, Trung Quốc một lần nữa không ngại ngần “khoe cơ bắp” trên biển, một phần cũng bởi thời gian chuyển giao lãnh đạo đã tới rất gần.

Tuy nhiên, giới lãnh đạo Trung Quốc nên cẩn thận vì những gì họ mong muốn. Một cách tiếp cận cứng rắn có thể dễ phản tác dụng. Nó khiến các nước trong khu vực lo ngại và tìm mọi cách “rào giậu” phòng thủ, tự bảo vệ trước một hàng xóm lớn hung hăng. Hơn thế nữa, các tranh chấp lãnh thổ thường đánh thẳng vào cảm giác chủ nghĩa dân tộc - công chúng nổi giận có thể gây áp lực với chính phủ trong những quyết định ngoại giao. Chính phủ Trung Quốc có thể tự mình mắc kẹt ở vị trí giữa sức ép khu vực, quốc tế và gánh nặng chủ nghĩa dân tộc trong nước.

Thái An
(theo CNN)

*****

Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã chấm dứt
Nghiên Cứu Biển Đông - Thứ ba, 31 Tháng 7 2012
Trung Quốc thực sự đang phải đối mặt với những thách thức to lớn mà chính nước này tạo ra: suy thoái môi trường, dân số lão hóa, bất bình đẳng thu nhập, tham nhũng tràn lan, bạn bè ngày càng xa lánh Liệu Trung Quốc có đủ khả năng để thay thế Mỹ trong một tương lai không xa?

Lúc này, hầu như ai cũng cho rằng Trung Quốc là cường quốc toàn cầu đang lên – với một nền kinh tế sẽ nhanh chóng thay thế Mỹ, một mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước đang được các quốc gia thuộc Thế giới Thứ ba ưa thích hơn so với mô hình chủ nghĩa tư bản dân chủ, chiếm dụng một số vùng châu Phi và Mỹ Latin và đang ngày càng có ảnh hưởng đối với các quốc gia láng giềng – một quốc gia đang nổi lên lớn nhất thế giới lại đang hoàn toàn chững lại. Trong khi Trung Quốc đã vượt qua được cuộc khủng hoảng tài chính được cho là bắt nguồn từ phương Tây từ năm 2008, nước này lại đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng của chính mình. Nếu xu hướng chủ đạo này vẫn tiếp tục diễn ra, thì những người cho rằng chúng ta sẽ bước vào thế kỷ Trung Quốc sẽ phải sớm nhận ra rằng thế kỷ đó đã chấm dứt trước khi nó bắt đầu.
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao phi thường của Trung Quốc là nhân tố đầu tiên khi chú ý đến sức mạnh đang gia tăng của nước này. Những nền kinh tế phát triển mạnh có thể đóng vai trò then chốt trên thị trường toàn cầu và có khả năng củng cố trong việc xây dựng phát triển quân đội của mình. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc đã chậm lại, tăng trưởng giảm từ 10.4% năm 2010 xuống còn 7.5% năm 2012. Đó là tỷ lệ mà các nhà kinh tế dự đoán sẽ còn giảm thấp hơn nữa. Những con số thống kê do truyền thông đưa ra dựa trên dữ liệu của Trung Quốc, tính xác thực của nó rất đáng nghi vấn.
Hơn nữa, theo báo Nhà Kinh tế (The Economist) của Anh, một quốc gia đang phát triển càng bắt kịp gần hơn với các nền kinh tế phát triển, thì càng khó duy trì tỷ lệ tăng trưởng, bởi vì quốc gia đó bắt buộc càng phải đổi mới chính mình. Đối với những nền kinh tế thị trường đang nổi, câu hỏi không phải là liệu tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại mà là liệu [nền kinh tế] Trung Quốc sẽ trải qua việc hạ cánh cứng hay hạ cánh mềm.
Một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm đang thách thức tất cả các chính phủ và đặc biệt là đối với Trung Quốc: tính chính danh của chế độ không dựa trên sự lựa chọn dân chủ của người dân mà là dựa trên khả năng đem lại mức sống cao và ngày càng gia tăng. Tăng trưởng mạnh gần đây đã tạo ra những kỳ vọng lớn lao của người dân Trung Quốc, họ hầu hết đều là những người không có được sự giàu có như những người mà chính phủ Trung Quốc đã đem lại, đó là một nhóm người chủ yếu sống ở các thành phố duyên hải. Trái với những khu dân số ở khu vực xa xôi và không đạt được kỳ vọng, sự chênh lệch và không có khả năng đáp ứng những kỳ vọng tăng trưởng cao trong tương lai sẽ là những xu hướng mà các nhà khoa học xã hội đánh giá là những nhân tố chính sẽ làm mất ổn định các chế độ.
Ngoài ra, sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong những thập kỷ qua cũng gây ra những thách thức về môi trường nghiêm trọng. Vào cuối năm 2007, 16 trên tổng số 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới đều ở Trung Quốc và nước này là quốc gia có lượng khí thải carbon dioxide cao nhất thế giới. Mô hình kinh tế Trung Quốc hiện nay là mô hình phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường ngày càng kỳm hãm đến tăng trưởng nước này. Vấn đề này còn phức tạp hơn khi kết hợp với quy mô dân số của Trung Quốc và khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn như vấn đề khan hiếm nguồn nước nghiêm trọng. Song song với vấn đề trên là tệ nạn tham nhũng của Trung Quốc, đặc biệt là tại cấp chính quyền địa phương. Trung Quốc đứng thứ 75 trên bảng xếp hạng Chỉ số Nhận thức Tham nhũng (Corruption Perceptions Index), thấp hơn nhiều so với Nhật Bản (đứng thứ 14) và Mỹ (đứng thứ 24).
Dân số lão hóa của Trung Quốc cũng báo trước tình trạng khó khăn trong tương lai của nước này. Feng Wang, giám độc Trung tâm Nghiên cứu Cộng đồng Brookings – Thanh Hoa cho rằng sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc có được là nhờ rất nhiều vào đặc tính nhân khẩu học của nước này – những đặc tính này đang mất dần. Vì Trung Quốc vẫn duy trì chính sách một con kéo dài 30 năm của mình, do đó trong những năm tới nước này sẽ đối mặt với sự suy giảm mạnh mẽ trong bộ phận lực lượng lao động trẻ và sự gia tăng nhanh chóng trong tầng lớp công dân cao tuổi.
Về vấn đề [chính sách] công nhân Trung Quốc làm việc ở nước ngoài, chính sách này phải đối mặt với cản trở ngày càng gia tăng. Các quốc gia châu Phi nhận được hàng tỉ Đô la từ nguồn đầu tư và viện trợ của Trung Quốc đã phàn nàn rằng Trung Quốc thường không thuê lao động địa phương, họ là những người chỉ quan tâm đến lợi ích của người Trung Quốc và tránh tiếp xúc với người dân địa phương; những người bản địa mà họ thuê lại phải chịu đựng điều kiện làm việc khắc khổ và lương thấp; và những điều khoản thương mại bất bình đẳng. “Chủ nghĩa trọng thương” và “Chủ nghĩa thực dân kiểu mới” là những thuật ngữ nhanh chóng được gắn cho Trung Quốc.
Láng giềng của Trung Quốc đang ngày càng xa lánh nước này. Trong một số trường hợp, gần đây nhất là tại Myanmar và Việt Nam, các quốc gia này đang tiến gần hơn đối với Mỹ. Thực ra, Trung Quốc có rất ít đồng minh và những đồng mình mà quốc gia này có (là Bắc Triều Tiên) thường mang lại tổn thất và phiền toái hơn là sự trợ giúp.
Tóm lại, hình ành về một Trung Quốc giàu có, năng động sẽ thách thức một nước Mỹ đang suy thoái chỉ là quá khứ của ngày hôm qua. Chúng ta cần có thêm một trang bìa tạp chí nữa về câu chuyện Trung Quốc trỗi dậy – giống như chúng ta đã từng nói về Nhật Bản trỗi dậy trước đây – để chắc chắn rằng câu chuyện này cần phải được viết lại, nếu không muốn bị hiểu sai vấn đề.
Amitai Etzioni là giáo sư về các vấn đề quốc tế tại Trường Đại học George Washington. Cuốn sách mới đây nhất của ông là “Những điểm nóng: Chính sách ngoại giao của Mỹ hậu Thế giới Nhân quyền (Hot Spots: American Foreign Policy in a Post-Human-Rights World), cuốn sách sẽ được Transaction xuất bản vào tháng 10 năm 2012.
Thanh Văn (gt)

*****

TQ phân cực chiến lược tại Châu Á-Thái Bình Dương
 - 7/8/2012
Nhà kinh tế quốc tế Claude Myer nhận định: “Trên thực tế, sự đối đầu mà Bắc Kinh sẽ thực hiện là cuộc chiến đối đầu với Mỹ, cùng với sự phát triển tại khu vực châu Á lấy Trung Quốc là trọng tâm và sự sụt giảm tương đối của phương Tây mà Mỹ là trọng tâm. Một siêu cường đang được hình thành, đó là Trung Quốc với mục tiêu cuối cùng là nhằm ganh đua vị trí bá chủ của Mỹ và tác động đến trật tự thế giới theo hình thức đối thoại bình đẳng với Mỹ”.
Chiến lược của Trung Quốc đã thể hiện thông qua mục tiêu như đã chỉ ra ở trên một cách rõ ràng từ giữa thập niên vừa qua. Việc Trung Quốc sử dụng quyền lực mềm để gây ảnh hưởng với các nước châu Á láng giềng đã thu được lợi ích đáng kể trong phần lớn thập niên vừa qua. Điều này đã tạo ra một khoảng trống chiến lược nhấn chìm châu Á-Thái Bình Dương với sự sụt giảm về lực lượng quân đội Mỹ do diễn biến tại Ápganixtan và Irắc. Khoảng trống này cũng tạo thuận lợi cho Trung Quốc thực hiện một đường hướng về việc mở rộng quân sự không hạn chế và không có trở ngại.
Điều này đã tạo ra hai khía cạnh khác nhau của sức mạnh quân sự Trung Quốc. Điều đầu tiên đó là việc Trung Quốc nhận thấy là đối tác bình đẳng với Mỹ và kích động Trung Quốc tiếp tục thực hiện một cách dễ dàng những vấn đề còn tranh cãi như Đài Loan, Tây Tạng và vấn đề biển Nam Trung hoa. Đây là những vấn đề cốt yếu mà Trung Quốc sẵn sàng gây chiến tranh. Vấn đề thứ hai là Trung Quốc không bị hạn chế bởi Mỹ đã thành công khi tạo ra được cho các nước lân cận nhận thức rằng Hoa Kỳ không phải là đối tác chiến lược tin cậy của bất kể một nước châu Á nào khi phải đối mặt với Trung Quốc. Thủ đô của các nước châu Á được khuyến cáo rằng sức mạnh của châu Á nằm ở Bắc Kinh chức không phải ở Washington. Trước khi làm rõ chủ đề của bài viết này hai nhận xét của tác giả nói trên cần phải được nghiên cứu đó là sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trọng tâm và ý định của Trung Quốc là nhằm gây ảnh hưởng với trật tự thế giới theo cách đối thoại bình đẳng với Hoa Kỳ.
Tham vọng chiến lược của Trung Quốc về sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trung tâm dường như sẽ được giải quyết khi có sự đánh giá chiến lược về khía cạnh môi trường an ninh châu Á. Sự chuyển đổi của Trung Quốc từ chiến lược lớn dựa vào quyền lực mềm sang việc sử dụng vũ lực (hard power) dường như tạo ra một sự phân cực về chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ý định của Trung Quốc sẽ không được môi trường an ninh châu Á nhìn nhận như ý định mang tính chất hòa bình. Sự thay đổi của Trung Quốc trong chiến lược lớn dường như đã tạo ra nhận thức về một sự đe dọa của nước này đang nhấn chìm châu Á-Thái Bình Dương.
Ảnh minh họa
Sự gia tăng chủ nghĩa ôn hòa ở châu Á cần phải được xem xét như một vấn đề tập trung nhiều hơn vào nhận thức chiến lược châu Á về khả năng đe dọa của Trung Quốc hơn là sự nổi lên của châu Á do Trung Quốc lãnh đạo để chiến đấu chống lại sự thống trị của Mỹ và thay đổi cán cân quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương. Sự bình đẳng về mặt chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc về đối thoại bình đẳng là không bền vững và thực tế khi cán cân quyền lực ở châu Á và thế giới cần phải được xem xét. Trung Quốc chỉ có thể nổi lên như một sự bình đẳng chiến lược với Mỹ nếu nước này tập trung vào mặt chiến lược được hàng loạt các nước ở châu Á-Thái Bình Dương tạo thành liên minh do Trung Quốc đứng đầu đối đầu với mô hình an ninh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, thật đáng buồn cho Trung Quốc là không có nước nào trong khu vực này muốn trở thành đồng minh với với nó trừ CHDCND Triều Tiên và Pakistan vốn là đồng minh chiến lược. Ngoài ra, cũng có một sự khác biệt về mặt quân sự mà không thể thay đổi giữa Mỹ và Trung Quốc là về vũ khí hạt nhân, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân (ICBM) và khả năng điều quân.
Trở lại chủ đề chính về việc Trung Quốc đang thiết lập sự phân cực ở châu Á-Thái Bình Dương, cần phải nhấn mạnh rằng việc này là do Trung Quốc chứ không phải do Mỹ điều hành. Sự phân cực này cũng đã được thiết lập trong một khoảng thời gian và học thuyết của Tổng thống Mỹ Obama về trục chiến lược tại châu Á và việc tái cân bằng vị thế của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bị chậm chễ. Mặc dù có những hệ quả tự nhiên của những động thái của Trung Quốc trong khu vực mang tính rất hùng hổ. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bình yên về mặt chiến lược cho đến năm 2008 và châu Á cũng không thể hiện sự lo ngại trước việc nổi lên của Trung Quốc. Cho đến thời điểm đó có nhiều nước trung lập tại châu Á và họ không tin rằng liệu Mỹ có là một đối tác tin cậy hay không nếu như các vấn đề an ninh quốc gia của họ bị tác động bởi sự hiếu chiến đang nổi lên như Trung Quốc. Vào năm 2012 tình hình đã thay đổi rõ rệt, nhiều nước trung lập đã lựa chọn ngả theo Mỹ về mặt chiến lược. Tại sao lại có sự thay đổi về nhận thức về mặt chiến lược như vậy?
Chiến lược lớn của Trung Quốc dựa chủ yếu vào quyền lực mềm để đạt được mục tiêu chiến lược cuối cùng của nó dường như thực hiện trong giai đoạn từ 2006-2008. Sự hiếu chiến cũng như áp lực về mặt quân sự là con chủ bài lớn trong chiến lược của nước này.
Sau đó, Trung Quốc đã lợi dụng môi trường an ninh hiện có ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khủng hoảng tài chính toàn cầu và những giai đoạn phát triển nhanh về hiện đại hóa quân đội để tiến hành sử dụng một cách mạnh mẽ sức mạnh quân sự mới được hình thành. Điều này được thể hiện là quan điểm mang tính chất áp đặt và hiếu chiến của Trung Quốc đối với các nước đang tranh chấp vùng biển Nam Trung Quốc. Nó cũng được thể hiện thông qua việc trấn áp về mặt quân sự như vụ việc biểu tình ở Tây tạng diễn ra trước hội nghị Olympic ở Bắc Kinh năm 2008. Điều này cũng được thể hiện thông qua việc tàu ngầm Trung Quốc có mặt tại vùng biển Nhật Bản và Trung Quốc không gây áp lực với CHDCND Triều Tiên để có phản ứng mạnh hơn đối với những hành động mang tính quân sự chống lại Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước vốn là thành viên chủ chốt của Mỹ trong mô hình an ninh tại châu Á-Thái Bình Dương.
Có những dấu hiệu thay đổi về quan điểm của các nước châu Á khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và Minama, hai nước có địa chiến lược quan trọng và rộng lớn nằm ở hai bên sườn khu vực châu Á-Thái Bình Dương và có nhiều tiềm năng như đã từng được niêu tả trong bài viết trước đây của tôi sẽ tao cho Mỹ một chỗ đứng ở châu Á ngoài Hàn Quốc. Rõ ràng Nhật Bản và Mỹ đã tăng cường quan hệ quân sự và Hàn Quốc cũng thay đổi thái độ không rõ ràng đối với Trung Quốc. Philippin sau nhiều năm phản đối Mỹ về việc sử dụng căn cứu không quân và hải quân quan trọng thì nay cũng đồng ý cho Mỹ tham gia đầy đủ trong bối cảnh nước này đang có tranh chấp đến cùng với Trung Quốc về vùng biển Nam Trung hoa.
Trung Quốc được cho là có tầm nhìn, kế sách và tính kiên nhẫn một cách chiến lược lâu dài. Trung Quốc dường như đã hiểu sai ý định cũng như quyết tâm mang tính chiến lược của Mỹ khi gắn kết một cách chiến lược tại khu vực này. Mỹ không chỉ tăng cường mô hình an ninh của nó ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà hiện còn mở rộng ra khu vực xung quanh như Đông nam châu Á và tiểu lục địa Ấn Độ dưới các hình thức khác nhau như đối tác chiến lược và quan hệ chiến lược nhằm ám chỉ cho khu vực biết rõ mục đích mang tính uy lực và đe dọa của Trung Quốc.
Theo định hướng của Trung Quốc thì cuộc chiến đối đầu với Mỹ là không thể tránh khỏi, điều này sẽ đưa ra hai câu hỏi là liệu Mỹ hay Trung Quốc sẽ lẩn tránh cuộc chiến tranh? Câu hỏi thứ hai cần xem xét là trong cuộc chiến như vậy thì sự tổn thất của hai bên sẽ ra sao? Để trả lời câu hỏi thứ nhất tôi trích dẫn ý kiến của ông George Friedman -Giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược Mỹ (Stratfor) viết trong cuốn sách mới xuất bản gần đây: "Mỹ đã tiến đến sức mạnh toàn cầu với cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898. Và đã duy trì đường hướng này trong một thế kỷ. Việc thay đổi về mức độ mà Hoa Kỳ sẽ thực hiện thì đó không phải là sự lựa chọn vì điều này rất kỳ quặc". Tương quan về mặt tổn thất trong một cuộc chiến kéo dài thì Trung Quốc sẽ bị tổn thất nhiều hơn so với Mỹ và do vậy sẽ có sự bất lợi về mặt chiến lược hơn. Liệu điều này có cản trở Trung Quốc hay không? Dường như là không vì Trung Quốc với tham vọng lớn sẽ khó từ bỏ chiến lược toàn cầu. Lợi thế đối với Mỹ là thành công trong cuộc chiến tranh lạnh và trong mọi khía cạnh thì nó cũng sẽ thành công trong một cuộc chiến tranh lạnh thứ hai trong thời gian này. Riêng sức mạnh kinh tế thì không chuyển thành quyền lực mang tính chiến lược, đó là sức mạnh áp đặt về quân sự và chính trị và có khả năng điều hành quân sự mang tính toàn cầu.
Để kết luận thì có thể nhận thấy rằng vấn đề ngoại giao của Mỹ không thể đạt được trong thời gian trước đây về vấn đề phân cực mang tính chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương chống lại sự đe dọa của Trung Quốc, một chính sách hiếu chiến của Trung Quốc với sự thiếu kiên nhẫn và bất ngờ nhằm thể hiện quyền lực quân sự mới ở châu Á dường như đã tạo ra một cực chiến lược nổi bật tại châu Á-Thái Bình Dương chứ không phải sự bất lợi của Trung Quốc.
Mai Linh theo South Asia Analysis Group
*****

Tọa đàm với GS Carl Thayer

Lợi ích của Trung Quốc không nằm ở việc kích động một cuộc tranh chấp quân sự. Việc Trung Quốc chiếm đóng đảo không có người ở hay chiếm đoạt đảo từ quốc gia khác sẽ được xem là một hành động xâm lược – GS. Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc nói trong tọa đàm qua internet với Tuần Việt Nam.
- 7/8/2012

Tuần Việt Nam giới thiệu toàn văn nội dung trao đổi với GS. Carl Thayer: Trung Quốc ‘ăn miếng trả miếng’
Nhà báo Phương Loan: Những ngày qua, tình hình Biển Đông liên tục nóng lên với những động thái ngày càng leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông: thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa, bầu cử chính quyền ở đây, xây dựng đơn vị đồn trú, xua hơn 20 nghìn tàu cá ra Biển Đông ... Với mong muốn cung cấp thêm thông tin cho độc giả quan tâm đến chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cũng như quan tâm về những diễn biến gần đây và viễn cảnh ở Biển Đông, Tuần Việt Nam đã tổ chức đối thoại trực tuyến với GS Carl Thayer, từ Học viện Quốc phòng Australia, một chuyên gia về an ninh khu vực, am hiểu về Biển Đông, khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc.
Rất nhiều câu hỏi đã gửi về Tuần Việt Nam, chia sẻ những trăn trở suy tư trước vận mệnh dân tộc, mối lo về khả năng một cuộc xung đột vũ trang chớp nhoáng trên Biển Đông, cũng như đau đáu trước câu hỏi chính sách nào tốt nhất cho Việt Nam trên Biển Đông trong bối cảnh một ASEAN bị thách thức vì sự chia rẽ.
Ông nhìn nhận như thế nào về sự leo thang căng thẳng ở Biển Đông thời gian qua? Đằng sau những leo thang ấy là gì? Những hành xử ngày càng mang tính hiếu chiến của Trung Quốc đóng vai trò như thế nào với tư cách là tác nhân tạo nên căng thẳng?
GS. Carl Thayer: Ba sự kiện minh chứng cho sự gia tăng căng thẳng ở Biển Đông trong năm nay. Trước hết, đó là sự đối đầu ở bãi cạn Scarborough khi Philippines bị ngăn trở trong việc thực thi quyền tài phán ở vùng đặc quyền kinh tế của mình. Philippines bắt giữ một ngư dân Trung Quốc trong khi người này đang đánh bắt cá bất hợp pháp. Trung Quốc can thiệp bằng việc cử các tàu dân sự tới khu vực này, và sự cố này kéo dài 2 tháng.
"Việt Nam và các nước khác nên ép Trung Quốc cụ thể hóa yêu sách của họ, đưa các yêu sách theo đúng luật quốc tế" - GS Carl Thayer tư vấn
Sự cố thứ hai là việc vấn đề Biển Đông nổi lên trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tháng 4 và hội nghị ngoại trưởng ASEAN vào tháng 7. Ở cả hai dịp này, Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng ngoại giao của mình lên Campuchia, nhằn ngăn việc thảo luận vấn đề Biển Đông.
Sự cố thứ ba là phản ứng của Trung Quốc khi Việt Nam thông qua Luật biển. Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc CNOOC kêu gọi mở thầu 9 lô dầu khi nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc ngày càng có nhiều hoạt động chủ động thể hiện sự quyết đoán trong việc khẳng định các yêu sách chủ quyền.
Bạn đọc Thu Hiền: Trung Quốc đổ lỗi cho Việt Nam với việc thông qua Luật Biển làm leo thang căng thẳng ở Biển Đông. Quan điểm của Giáo sư? Theo ông, ý nghĩa của việc thông qua luật biển này như thế nào?
GS. Carl Thayer: Trung Quốc đã cố ngăn trở Việt Nam thông qua Luật Biển. Khi Quốc hội Việt Nam rõ ràng quyết tâm thực hiện việc thông qua Luật Biển thì Trung Quốc đã lên kế hoạch trả đũa. Đó là lý do CNOOC ngay lập tức mời thầu 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và nằm ngoài đường 9 đoạn.
Phần quan trọng nhất trong Luật Biển Việt Nam là điều 2.2 của luật này quy định rằng, bất kỳ trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Nhà báo Phương Loan: Có người mô tả căng thẳng ở Biển Đông là chuỗi các hành động “ăn miếng trả miếng” với sự thù địch ngày càng gia tăng giữa các bên yêu sách chủ quyền. Nhiều người quan ngại rằng những căng thẳng ở Biển Đông làm gia tăng nguy cơ nổ lên khủng hoảng chính trị, quân sự nghiêm trọng hơn ở khu vực từ những va chạm vô tình. Quan điểm của giáo sư?
GS. Carl Thayer: Tất cả các bên trong tranh chấp Biển Đông đều chưa đủ lòng tin vào các đối tác và đều cực kỳ nhạy cảm với việc xâm phạm chủ quyền quốc gia.
Trong năm nay, căng thẳng gia tăng ở một mức cao hơn, nhưng chúng ta không thấy lặp lại trường hợp Trung Quốc sử dụng lực lượng quân sự để cắt cáp trong vùng biển của Việt Nam như sự kiện Bình Minh năm ngoái hay trường hợp xua đuổi tàu khai thác dầu khí nước ngoài ở vùng biển của Philippines.
Trung Quốc đang áp dụng các chiêu thức mới. Tôi thường ví Biển Đông như một chiếc bồn tắm. Trung Quốc đang phát triển ngày càng nhiều lực lượng tàu dân sự và cử một lượng lớn tàu cá tới phía nam.
Vùng nước này được tranh giành, gây tắc nghẽn và dễ dẫn đến xung đột vũ trang, như kết luận của Viện Lowy, một cơ quan nghiên cứu của Australia. Tôi chia sẻ nhận định của Viện này.
Nhà báo Phương Loan: Liên quan đến vấn đề lòng tin, trong khi đưa ra những cam kết về hợp tác, người ta liên tục chứng kiến những hành động leo thang gây hấn ở cường độ cao hơn, mạnh hơn của Trung Quốc trên Biển Đông như vụ mời thầu 9 lô dầu khí ngay trên thêm lục địa của Việt Nam và thậm chí còn nằm ngoài đường chữ U mà nước này vẽ … Đằng sau những động thái ấy của Trung Quốc là gì, thưa GS?
GS. Carl Thayer: Hành động của Trung Quốc là kiểu hành xử “ăn miếng trả miếng” đối với việc Việt Nam thông qua Luật biển. Các hành động này chủ yếu mang tính chính trị để đáp trả tuyên bố pháp lý của Việt Nam. Không có vẻ là sẽ có bất kỳ công ty dầu khí quốc tế lớn nào sẽ chấp nhận lời mời của Trung Quốc.
Bạn đọc Trường Giang: Liệu Trung Quốc sẽ cho kéo giàn khoan nước sâu, cái mà họ mô tả là “ vũ khí chiến lược, biên cương di động” của TQ xuống cắm ở vùng Biển Đông hay không?
GS. Carl Thayer: Không, chí ít trong 3-5 năm tới. Dàn khoan khổng lồ đã được cam kết sẽ hoạt động lâu dài bên cửa sông Châu (Pearl River) và ở khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc với nguồn hydrocarbon lớn.
Tạo sức ép ngoại giao lên Trung Quốc
Nhà báo Phương Loan: Trung Quốc sử dụng đường chữ U chín đoạn để mô tả yêu sách chủ quyền của mình. Khu vực này hầu như bao trọn Biển Đông. Chúng ta phải xử lý như thế nào với yêu sách của Trung Quốc, theo Giáo sư?
GS. Carl Thayer: Có lẽ không ai ở Bắc Kinh biết chính xác thực ra đường 9 đoạn yêu sách điều gì. Nó được Trung Hoa cộng hòa vẽ năm 1948 và chính thức đưa lên bàn của Ủy ban biên giới ngoài thềm lục địa của Liên hợp quốc vào năm 2009. Trung Quốc có vẻ tuyên bố về quyền lịch sử với vùng nước này. Không có quy định nào trong UNCLOS phù hợp với yêu sách đó của Trung Quốc.
Trung Quốc cũng yêu sách chủ quyền đối với tất cả các đảo và đá và vùng nước bao quanh. Chủ quyền chỉ có thể đòi hỏi đối với các vùng đất. Vùng đất trao cho quốc gia quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng nước. Ví dụ, mỗi đảo tương ứng với 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và mỗi đảo đá có 12 hải lý vùng nội thủy.
Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực có các tuyên bố chủ quyền bám sát với quy định về quyền chủ quyền và quyền tài phán trong luật quốc tế. Với đường cơ sở, Việt Nam với yêu sách giống như một phụ nữ mang bầu, nên có điều chỉnh giống Philippines làm mới đây khi nước này sửa lại đường cơ sở của mình phù hợp với luật quốc tế.
Sau đó Việt Nam và các quốc gia trong khu vực nên ép Trung Quốc cụ thể hóa yêu sách của họ và đưa các yêu sách này theo đúng luật quốc tế. Các chuyên gia nói rằng việc này sẽ giảm khu vực tranh chấp.
Cho tới khi Trung Quốc điều chỉnh yêu sách đúng với luật quốc tế, Việt Nam và các nước trong khu vực cần tiếp tục gây sức ép ngoại giao lên nước này.
Gây chiến, uy tín của Trung Quốc sẽ trượt dốc
Nhà báo Phương Loan: Có một câu hỏi, đồng thời là mối quan tâm chung của hầu hết độc giả: Khả năng về một cuộc đối đầu vũ trang ở Biển Đông hiện thực đến đâu, theo ông?
GS. Carl Thayer: Nguy cơ đối đầu vũ trang giữa các tàu quân sự là rất thấp. Nguy cơ đối đầu giữa các tàu bán quân sự là thấp. Mối nguy về một dạng tai nạn hoặc sự vô ý của các chỉ huy địa phương luôn hiện hữu.
Nhà báo Phương Loan: Trong bài viết của tác giả Jim Holmes trên tờ Foreign Policy vừa rồi có nhận định rằng đây là thời khắc trỗi dậy của quân đội Trung Quốc và rất có thể sẽ có một kịch bản tương tự năm 1974 xảy ra vì lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng họ phải hành động ngay bây giờ để chiếm ưu thế trước trong cuộc cạnh tranh. Theo GS liệu có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang trên Biển Đông hay không?
GS. Carl Thayer: Tôi không nghĩ như vậy. Lợi ích của Trung Quốc không nằm ở việc kích động một cuộc tranh chấp quân sự và việc Trung Quốc chiếm đóng đảo không có người ở hay việc Trung Quốc chiếm đoạt đảo từ quốc gia khác sẽ được xem là vi phạm Tuyên bố của các bên về ứng xử trên Biển Đông DOC và là một hành động xâm lược. Uy tín quốc tế của Trung Quốc sẽ bị tụt dốc. Trung Quốc có thể thấy quan hệ với ASEAN không dễ chịu. Và Trung Quốc sẽ thấy mối liên kết giữa các cường quốc hải quân đứng đầu là Mỹ sẽ nhanh chóng thành hình.
Nói tóm lại, hành động của Trung Quốc có thể dẫn tới một dạng chiến tranh lạnh căng thẳng mới.

Phần 2: Leo thang Biển Đông: Chuyển lửa ra bên ngoài?
- 8/8/2012
Trong phần này, GS. Carl Thayer lý giải những yếu tố chính trị và kinh tế nội tại của các quốc gia tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông như một tác nhân leo thang căng thẳng ra sao? Những mưu tính chính trị, những kế hoạch để thu hút “khán giả trong nước”, gây xao nhãng với những vấn đề bên trong ra sao?
Giai đoạn chuyển giao quyền lực là thời kỳ đáng lo ngại bởi vì một số lãnh đạo và các nhân tố giương ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc nhằm phục vụ cho lợi ích của họ, GS Carl Thayer cảnh báo.
Trung Quốc hướng tới ‘khán giả trong nước’
Nhà báo Phương Loan: Trong phần trước, Giáo sư đã phân tích những động thái của Trung Quốc thời gian qua làm leo thang căng thẳng Biển Đông. Ông nhận định khả năng về một cuộc đối đầu giữa các tàu quân sự hai nước là rất thấp. Tuy nhiên dư luận vẫn quan ngại trước thực tế Trung Quốc đang quân sự hóa tranh trấp. Trong một loạt động thái của Trung Quốc vừa qua, có quyết định cho đồn trú quân đội tại cái gọi là Tam Sa. Lãnh đạo nước này cũng nói có một đơn vị đồn trú khác trực thuộc hải quân chịu trách nhiệm chiến đấu ở Biển Đông. Theo GS, mục đích của việc này là gì? Có gì khác so với các tuyên bố và hành động trước đây của Trung Quốc ở Biển Đông?
GS Carl Thayer: Sự tham gia trực tiếp của quân đội Trung Quốc là sự thay đổi chính sách đáng chú ý. Điều này rất đáng lo ngại bởi vì quyết định lập đơn vị đồn trú được đưa ra bởi Ủy ban quân ủy trung ương, cơ quan cao nhất về quân đội của đảng.
GS. Carl Thayer trao đổi với GS Tô Hạo của Trung Quốc bên lề hội thảo quốc gia của Việt Nam về Biển Đông tại TP.HCM năm 2011 - Ảnh Tuổi trẻ
Các tuyên bố này của Trung Quốc nhằm hăm dọa và ngăn Việt Nam và Philippines có các hành động trong vùng yêu sách chủ quyền của mình. Nhưng hành động của Trung Quốc thực ra chủ yếu là hướng tới các khán giả trong nước.
Không có vẻ gì là chúng ta sẽ chứng kiến việc xây dựng một căn cứ quân sự lớn ở đảo Trúc Lâm hay sự tham gia trực tiếp của Hải quân Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Đông.
Chuyển lửa ra bên ngoài: Trò chơi nguy hiểm
Bạn Lệ Thùy nêu câu hỏi: Theo ông, những khó khăn kinh tế trong nước ảnh hưởng như thế nào đến sự gia tăng căng thẳng ở Biển Đông?
GS Carl Thayer: Khi các quốc gia tham chiến hoặc can dự vào một cuộc chiến, kinh tế là khía cạnh đầu tiên được tính đến. Đồng thời, một nền kinh tế yếu kém cũng sẽ cản trở hành vi của một quốc gia.
Bạn Lệ Thùy: Ý của tôi là: liệu có khả năng căng thẳng hiện nay leo thang một phần bởi một vài bên yêu sách do tình hình kinh tế khó khăn trong nước nên đẩy vấn đề chủ quyền lên, nhằm làm người dân xao nhãng đến những mối lo thiết thân do những khó khăn kinh tế mang lại, giảm áp lực với chính phủ trong việc điều hành, quản trị kém nền kinh tế, nói cách khác, là cách thức chính quyền “chuyển lửa ra bên ngoài”?
GS Carl Thayer: Tôi không nghĩ vậy. Việc gia tăng căng thẳng không giúp giải quyết những khó khăn nằm sâu trong nền kinh tế hay giúp cải thiện năng lực quản trị quốc gia. Đó sẽ là một trò chơi cực kỳ nguy hiểm mà hệ quả có thể là một cuộc đối đầu. Không ai là kẻ thắng trong tình thế như vậy.
Nhà báo Phương Loan: Theo GS, những vấn đề trong nội bộ, đặc biệt là quá trình chuyển giao quyền lực trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc có ảnh hưởng như thế nào đến tình hình trên Biển Đông?
GS Carl Thayer: Rõ ràng Trung Quốc không phải là một thực thể thống nhất. Nghiên cứu của Nhóm khủng hoảng quốc tế ICG cho thấy cái gọi là “9 con rồng” hay 9 bộ của Trung Quốc có trách nhiệm chồng lấn nhau trong các vấn đề trên biển. Một số cạnh tranh với số khác để nắm giữ vai trò lãnh đạo và để gia tăng ngân sách của họ nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia củaTrung Quốc.
Giai đoạn chuyển giao quyền lực là thời kỳ đáng lo ngại bởi vì một số lãnh đạo và các nhân tố giương ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc nhằm phục vụ cho lợi ích của họ. Rất có thể một khi nhóm lãnh đạo mới lên cầm quyền Trung Quốc sẽ nỗ lực để thúc đẩy quan hệ với Mỹ và trong một chừng mực nhất định khuếch tán căng thẳng ở Biển Đông.
Sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc + mánh lới chính trị
Nhà báo Phương Loan: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của giới quân sự Trung Quốc trong việc định hình chính sách đối ngoại của nước này?
GS Carl Thayer: Quân đội Trung Quốc được xem là lực lượng bảo thủ mang nặng chủ nghĩa dân tộc và họ không muốn nhân nhượng trong các yêu sách chủ quyền. Nhưng quân đội Trung Quốc cũng không muốn đẩy tới đối đầu với Mỹ. Quân đội Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo trong các chính sách an ninh quốc gia, không phải với chính sách ngoại giao nói chung.
Nhà báo Phương Loan: Cũng liên quan đến vai trò của giới chức quân sự Trung Quốc, bạn đọc Lan Phương đặt vấn đề: ông có cho rằng sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông phản ánh thế đi lên của giới chức quân sự trong chính quyền Trung Quốc hay không?
GS Carl Thayer: Sự quyết đoán của Trung Quốc là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa quân sự. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rằng bây giờ không phải thời điểm để thách thức Mỹ ở một cuộc đối đầu quân sự.
Bạn đọc Nguyễn Hưng: Cuối năm nay,Trung Quốc sẽ hoàn thành việc chuyển giao quyền lực. Liệu viễn cảnh tình hình và chính sách Biển Đông của Trung Quốc có gì khác, thưa GS?
GS Carl Thayer: Sự thay đổi lãnh đạo sẽ trao cho nhóm lãnh đạo mới thời gian để đánh giá lại chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Trung Quốc có vẻ chuyển đổi các chiêu thức và nhấn mạnh vào việc sử dụng ngoại giao trước tiên. Nhưng Trung Quốc sẽ không từ bỏ các yêu sách chủ quyền của mình và Trung Quốc sẽ phản ứng lại bất cứ hành động nào xâm phạm quyền tài phán của nước này.
Bạn Hà Ngọc: Đánh giá của GS về chính sách đối ngoại của Trung Quốc dưới thời lãnh đạo mới. Chính sách này tác động như thế nào đối với tình hình Biển Đông?
GS Carl Thayer: Nhiều nhà phân tích đang trông đợi hành xử tốt hơn của Trung Quốc trên Biển Đông dưới thời Tập Cận Bình bởi các mánh khóe chính trị nhằm hướng tới vị trí lãnh đạo sẽ không còn áp dụng.
Điều này không đồng nghĩa với việc sẽ chấm dứt cuộc tranh cãi về chủ quyền nhưng rất có thể Trung Quốc sẽ nỗ lực để sử dụng ngoại giao một cách tốt hơn.
Bạn Phạm Dũng: Để sang một bên những sự kiện căng thẳng gần đây, theo ông, đâu là bản chất của tranh chấp ở Biển Đông?
GS Carl Thayer: Bản chất lâu dài của tranh chấp Biển Đông nằm ở chủ nghĩa dân tộc tài nguyên, đặc biệt ở dầu, khí và hải sản. Bằng việc yêu sách chủ quyền với các đảo, một quốc gia có thể yêu sách 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế. Quốc gia đó nhờ đó có quyền tài phán với các tài nguyên dưới nước, trên thềm lục địa và dưới đáy biển. Trữ lượng dầu và khí theo tính toán của Trung Quốc cao hơn 7 lần so với tính toán của Mỹ. Và Trung Quốc muốn kiểm soát nguồn dầu và khí này trên Biển Đông.
Nguyên trạng: Viễn cảnh tốt nhất
Nhà báo Phương Loan: Viễn cảnh tốt nhất và xấu nhất cho căng thẳng Biển Đông trong những năm tới?
GS Carl Thayer: Viễn cảnh tốt đẹp nhất là khi Trung Quốc và ASEAN triển khai các hoạt động hợp tác trong DOC và đạt thỏa thuận và cam kết COC trên Biển Đông. Với COC là nền tảng, tất cả các bên có thể đồng ý cùng phát triển.
Viễn cảnh xấu nhất là khi Trung Quốc chộp cơ hội buộc một nước phải rút ra khỏi đảo hoặc đá ở Biển Đông và sau đó chiếm đóng đảo, đá đó và đóng quân tại đảo và đá để bảo vệ thành quả từ việc chiếm đoạt ấy.
Nhà báo Phương Loan: Theo Giáo sư, đâu là viễn cảnh mà tất cả các bên yêu sách chủ quyền đều có thể hài lòng?
GS Carl Thayer: Tranh chấp chủ quyền sẽ không được giải quyết. Duy trì tính nguyên trạng một cách hòa bình không có mối đe dọa vũ lực, cùng phát triển trong một số khu vực nhất định có chọn lựa, và tăng cường hợp tác trong khuôn khổ DOC có thể làm hài lòng tất cả các bên yêu sách.

Phần 3: Để Trung Quốc hết 'bắt nạt láng giềng'
- 9/8/2012
Trong phần này, Giáo sư Carl Thayer sẽ phân tích những lựa chọn chính sách cho Việt Nam trong bối cảnh một ASEAN chia rẽ và sự quan tâm của các nước lớn đến khu vực gia tăng đồng thời với việc lợi ích của các nước với Trung Quốc cũng không nhỏ.
Việt Nam cũng nên sử dụng các mối quan hệ đối ngoại đa dạng của mình để xây dựng một liên minh những người ủng hộ mình trong nhóm các cường quốc, GS Carl Thayer khuyến nghị.
Nhà báo Phương Loan: Sau những căng thẳng ở bãi cạn Scarborough, các nhà bình luận ở Philippines đã buộc tội Trung Quốc sử dụng lợi thế nước lớn của mình để bắt nạt láng giềng. Theo ông, liệu sự hiện diện của Mỹ có là cần thiết để cần bằng quyền lực ở khu vực? Hiệp định phòng thủ chung Mỹ - Philippines sẽ quy định sự tham gia của Mỹ như thế nào đối với tranh chấp Biển Đông?
GS Carl Thayer: Chiêu thức bắt nạt của Trung Quốc là sử dụng các tàu dân sự trực thuộc cơ quan thực thi luật thủy sản và giám sát hàng hải Trung Quốc. Cách thức đáp trả thích hợp là sử dụng cảnh sát bờ biển của Philippines.
Mỹ là một cường quốc hàng hải, và lợi ích của Mỹ gắn với việc không quốc gia nào, kể cả Trung Quốc, chi phối các tuyến đường biển ở Biển Đông. Rõ ràng là hải quân Mỹ sẽ tăng cường sự hiện diện của mình và ngăn chặn Trung Quốc.
Như là một kết quả của các hành động của Trung Quốc, Hiệp định Phòng thủ chung Mỹ - Philippines đang được xem xét lại theo đề xuất của Tổng thống Aquino. Sự ủng hộ của Mỹ là cần thiết để Philippines xây dựng năng lực cho hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền tài phán ở vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Hiệp định này cũng đóng vai trò như là một sự ngăn chặn việc Trung Quốc sử dụng quân sự.
Ý chí chính trị
Nhà báo Phương Loan: Sau sự cố Phnompenh vừa qua, người ta thấy một ASEAN đang bị chia rẽ. Vậy ASEAN sẽ có ý nghĩa và vai trò gì đối với các nước như Việt Nam và Philipine trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông?
GS Carl Thayer: Có ba diễn tiến riêng rẽ tại hội nghị ASEAN tháng 7 này. Hai diễn tiến tích cực đã bị phủ bong bởi thất bại của các ngoại trưởng ASEAN trong việc đạt được một thỏa thuận về ngôn từ của thông cáo chung. Đó có thể là một cuộc tranh luận nóng giữa các ngoại trưởng nhưng không phải là cuộc tranh cãi kéo dài.
Hai diễn tiến khác là: trước thời điểm sự cố về thông cáo chung, các ngoại trưởng ASEAN đã nhất trí thông qua các nhân tố cơ bản của COC và ngoại trưởng ASEAN đã thắng lợi trong việc đưa tất cả các ngoại trưởng ASEAN đạt thỏa thuận về 6 nguyên tắc của ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Đối thoại với Trung Quốc có thể bắt đầu vào tháng 9 với mục tiêu thông qua COC vào tháng 11.
Nhà báo Phương Loan: Cuối cùng, ASEAN cũng đã đưa ra được các thành tố cơ bản của COC. Đáng tiếc thay, không có điểm nào về tính ràng buộc pháp lý của COC như trông đợi trước đó. Trong điều kiện đó, COC giúp gì trong việc giảm căng thẳng? và trong giải quyết xung đột?
GS Carl Thayer: Bản dự thảo COC vẫn chưa được Trung Quốc đồng ý. Nhưng bản dự thảo đòi hỏi các bên ký kết tìm kiếm giải pháp cho xung đột trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định Thân thiện và Hợp tác ASEAN (TAC) một khi hai bên sẵn sàng chấp nhận. Nếu không, các bên trong tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế, bao gồm UNCLOS.
Trung Quốc luôn từ chối cả hai lựa chọn này: TAC và luật quốc tế. Nhưng một khi COC được thống nhất, nó sẽ giúp ngăn Trung Quốc nếu nước này sẵn lòng tuân thủ các nguyên tắc. Một khi Trung Quốc phá vỡ, giai đoạn ngoại giao sẽ chuyển sang chính sách thực dụng. Vấn đề là làm sao đạt được một thỏa thuận về cách hành xử của các bên cho tới khi tranh chấp chủ quyền được giải quyết.
Nhà báo Phương Loan: Còn nhớ tháng 7 năm 2011, Trung Quốc và ASEAN đạt được thỏa thuận về các hướng dẫn thực hiện DOC. Bản hướng dẫn này nhằm giảm căng thẳng và ngăn chặn việc leo thang tiếp theo ở khu vực. Tình hình trên Biển Đông hiện nay cho thấy văn bản này chẳng có mấy hiệu quả. Với bản dự thảo COC sắp tới, theo ông, có thể giúp đảm bảo nguyên trạng trên Biển Đông?
GS Carl Thayer: Trung Quốc và ASEAN đã thành lập nhóm làm việc để đề xuất các dự án trong các lĩnh vực hợp tác đã được nêu trong DOC. Trung Quốc hào phóng đề xuất bảo trợ cho các hoạt động hợp tác. Tuy nhiên đến nay chưa có hành động nào được thể hiện. Một khi việc hợp tác chung bắt đầu, chúng ta có thể hi vọng rằng sẽ đóng góp vào xây dựng lòng tin lẫn nhau. Vẫn còn quá sớm để đưa ra nhận xét.
ASEAN đã đưa ra tuyên bố về các nhân tố cơ bản của COC. Hiện nay các thành viên ASEAN và Trung Quốc phải đạt được thỏa thuận về văn bản cuối cùng. COC chỉ đi vào thực tế một khi các nước liên quan có đủ ý chí chính trị. Yếu tố quan trọng của COC là buộc các quốc gia không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nhưng bản dự thảo COC thực sự không đưa ra bất kì công cụ nào kiểm tra việc một quốc gia có sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực hay không.
Tăng năng lực tự vệ
Nhà báo Phương Loan: Trước tình hình và những bước leo thang quả quyết như vậy của Trung Quốc, cũng như sự chia rẽ trong nội bộ ASEAN, Việt Nam còn những lựa chọn giải pháp nào và Việt Nam cần phải làm gì?
GS Carl Thayer: Trước hết, Việt Nam nên tiếp tục tăng cường khả năng tự vệ để bảo vệ chủ quyền quốc gia và duy trì sự thống nhất trong nước. Việt Nam nên tiếp tục can dự với Trung Quốc - đấu tranh và hợp tác - nhằm đảm bảo rằng không bên nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ song phương.
ASEAN cần tiếp tục vận động các nước thành viên nhằm đạt được một chỗ đứng thống nhất của ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Việt Nam cũng nên sử dụng các mối quan hệ đối ngoại đa dạng của mình để xây dựng một liên minh những người ủng hộ mình trong nhóm các cường quốc. Chính sách ngoại giao của Việt Nam phải luôn nhằm mục tiêu thuyết phục Trung Quốc rằng hợp tác sẽ mang lại kết quả tốt đẹp hơn là đối đầu.
Bạn Trịnh Minh Châu, cựu sinh viên ĐH New South Wales, Úc: Tuy không nghiên cứu về lĩnh vực quốc phòng và chính trị nhưng từ hơn chục năm nay khi còn học tại Úc cũng như khi trở lại Việt Nam, tôi đọc nhiều và rất quan tâm các bài viết của GS về vấn đề chính trị khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, tôi cho rằng GS có cái nhìn, đánh giá rất khách quan song cũng rất sâu sắc, cụ thể. Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm trong quá khứ đã có thể tồn tại bên cạnh một Trung Quốc khổng lồ, nhưng với những gì đang diễn ra tại Biển Đông quả lại là một bài toán gai góc.
Nhân dân Việt Nam, quân đội và hải quân nên làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình trong khi vẫn phải phát triển được quan hệ tốt với cả Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nga?
GS Carl Thayer: Việt Nam nên trước tiên dựa vào các cơ quan dân sự để bảo vệ chủ quyền của mình. Điều này đồng nghĩa với việc phát triển lực lượng cảnh sát biển, tăng cường năng lực cho họ.
Việc sử dụng các tàu quân sự, như đã thấy trong trường hợp Philippines ở bãi cạn Scarborough có thể phản tác dụng. Việt Nam cần xây dựng khả năng tự vệ bằng cách hiện đại hóa hải quân và không quân, để các lực lượng này có thể phối hợp hoạt động.
Việt Nam nên phát triển chiến lược chống tiếp cận như Trung Quốc đã triển khai với Mỹ.
Việt Nam nên sử dụng mạng lưới quan hệ dày đặc giữa hai đảng, hai chính phủ và hai quân đội với Trung Quốc khoanh vùng tranh chấp Biển Đông khỏi quan hệ kinh tế rộng lớn hơn.
Việt Nam đang nâng quan hệ với Nga lên mức quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam nên tiếp tục nhập khẩu công nghệ quân sự của Nga và thông thạo hệ thống vũ khí của nước này. Và Việt Nam cũng nên khuyến khích Nga đầu tư nhiều hơn vào khai thác đầu, khí và ngành hạt nhân.
Vấn đề nhân quyền ngăn quan hệ Việt - Mỹ đạt được mức đối tác chiến lược. Nhưng cả hai bên chia sẻ một tầm nhìn chiến lược và việc duy trì một mối quan hệ tốt không phải là điều khó khăn.
Bạn đọc Long Lê: Theo cá nhân tôi, Trung Quốc ngày một quyết đoán hơn trong việc xử lý tranh chấp với các nước láng giềng ở Biển Đông và sẽ không sẵn sàng tuyên bố lại về yêu sách chủ quyền của họ đối với hầu hết Biển Đông. Cũng rất rõ ràng là Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố quan điểm chính thức là không liên minh với bất kỳ nước nào chống lại nước thứ ba. Tuy nhiên, Việt Nam là nước nhỏ, và trong so sánh về quân sự với Trung Quốc, là nước yếu. Quan điểm của ông với tình thế này của Việt Nam như thế nào?
GS Carl Thayer: Việt Nam cần phát triển quan hệ song phương tốt đẹp với riêng rẽ từng nước Trung Quốc và Mỹ tập trung vào những lĩnh vực mà lợi ích của hai bên chồng lấn. Việt Nam cần duy trì sự thống nhất bên trong và phát triển năng lực tự vệ. Đồng thời, Việt Nam cần khuyến khích sự thống nhất và tính cố kết trong ASEAN. Cuối cùng, Việt Nam cần phát triển quan hệ với tất cả các cường quốc. Nói cách khác, đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ, đấu tranh và hợp tác trên bình diện song phương.
Tăng hợp tác nhưng không liên minh với Mỹ
Nhà báo Phương Loan: Liên quan đến vai trò của Mỹ ở Biển Đông, một số nhà phân tích cho rằng Mỹ đang ở tình trạng tiến thoái lưỡng nan. GS nghĩ thế nào về nhận định này và khả năng hành động cũng như giới hạn của Mỹ là gì?
GS Carl Thayer: Tình thế lưỡng nan của Mỹ là để quyết định họ sẽ hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực đến mức nào để không bị kẹt trong những hành động thiếu thận trọng của Philippines. Một tranh chấp về chủ quyền - rằng ai sở hữu các đảo, đá - chỉ có thể giải quyết bởi những bên trực tiếp liên quan đến tranh chấp. Mỹ không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền. Nhưng chính sách của Mỹ là ngăn bất kỳ nước nào sử dụng quân sự hoặc đe dọa sử dụng quân sự nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền. Mỹ cũng có lợi ích quốc gia trong việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không đối với các tàu quân sự và thương mại của họ.
Nhà báo Phương Loan: Ý nghĩa của tranh chấp Biển Đông trong chính sách của Mỹ và lợi ích của ước này ở khu vực?
GS Carl Thayer: Mỹ là một quốc gia biển và có nhu cầu qua lại trên Biển Đông đối với các tàu thuyền quân sự khi di chuyển từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương. Trung Quốc đang thách thức sự thống lĩnh trên biển của Mỹ và muốn điều khiển vị trí ấy từ cái gọi là chuỗi đảo đầu tiên ngoài bờ biển Trung Quốc. Mỹ muốn ngăn Trung Quốc thách thức sự hiện diện cả nước này. Tranh chấp Biển Đông đe dọa sự ổn định của các tuyến đường biển khi nó thu hút cả Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc đã xây dựng căn cứ hải quân lớn ở đảo Hải Nam và chiến lược tái cân bằng của Mỹ được thiết kế nhằm đảm bảo sự qua lại quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á nhằm sử dụng sức mạnh hải quân đối chọi với Trung Quốc.
Nhà báo Phương Loan: Ông nghĩ sự gia tăng hiện diện của Mỹ tại Biển Đông sẽ giúp duy trì sự ổn định hay sẽ làm phá vỡ sự ổn định của các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực?
GS Carl Thayer: Bất chấp tất cả những bài phát biểu về tái cân bằng, không có gì để cho thấy một sự gia tăng đáng kể sự hiện diện của hải quân Mỹ. Nhưng bản chất và vị trí hiện diện của hải quân Mỹ sẽ thay đổi. Yếu tố gây bất ổn lâu dài ở Biển Đông là việc quân đội Trung Quốc thách thức vị trí siêu cường hải quân của Mỹ và phản ứng của Mỹ nhằm đảm bảo duy trì vị thế thống lĩnh của nước này. Điều này diễn ra trong bối cảnh sự trỗi dậy của Trung Quốc đồng nghĩa với suy yếu tương đối của sức mạnh Mỹ. Một số quốc gia trong khu vực lo ngại về nguồn lực của Mỹ để duy trì vị thế vượt trội của họ. Mỹ đang cố chứng tỏ rằng nước này sẽ duy trì lợi ích ở khu vực.
Bạn đọc Long Lê: Trong điều kiện Trung Quốc hành xử ngày càng gây hấn và trong tương quan sức mạnh bất đối xứng giữa Việt Nam và Trung Quốc, theo GS, liệu Việt Nam có nên tiến thêm một bước bằng cách liên minh với Mỹ để có sự hỗ trợ từ bên ngoài trong việc đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông?
GS Carl Thayer: Việt Nam không nên liên minh với Mỹ. Việt Nam nên phát triển quan hệ với Mỹ vì lợi ích quốc gia của Việt Nam. Mỹ cũng có lợi ích quốc gia của riêng họ trong việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông. Việt Nam có thể tính đến Mỹ trong hành xử vì lợi ích của chính họ.
Nhà báo Phương Loan: Vai trò của các cường quốc khu vực như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia trong tranh chấp Biển Đông?
GS Carl Thayer: Cả ba nước này có một chính sách giống như chính sách của Mĩ. Không nước nào đứng về bên nào trong các yêu sách chủ quyền. Cả ba đều là các quốc gia biển, hai trong số đó là đồng minh của Mỹ. Cả ba đều chia sẻ lợi ích trong việc ngăn Trung Quốc thống trị Biển Đông cũng như việc Trung Quốc gây cản trở cho các hoạt động của tàu quân sự và dân sự của họ theo các quy định của luật quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc tế Luật biển UNCLOS.
*****

Trỗi dậy và sụp đổ

Đàn Chim Việt – 9-8-2012

Giáo sư Đại học Quốc phòng Trung Quốc Lưu Minh Phúc tác giả quyển sách Giấc mơ Trung Quốc, được 10 nhà xuất bản lớn cạnh tranh mua bản quyền và được dư luận thế giới đánh giá cao về tư duy nước lớn, định vị chiến lược thời “hậu Mỹ”. Nhà chiến lược Lưu Á Châu viết lời tựa “Cuộc cạnh tranh thế kỷ giữa Trung – Mỹ mở ra thời đại mới trong lịch sử thế giới”.
Mở đầu sách, là những chương “Nhất thế giới là giấc mơ trăm năm của Trung Quốc”; “Đọ sức thế kỷ: Giành ngôi quốc gia quán quân”. Tác giả nhìn nhận cạnh tranh toàn cầu như là cuộc cạnh tranh giữa các nền văn minh. Từ đó, ông nêu ra những ưu thế có tính chiến lược mà Trung Quốc phải nắm lấy để có thể thuyết phục thế giới tôn vinh mình là ngọn cờ thời đại: “Trong thời đại toàn cầu hóa, Trung Quốc trỗi dậy, giương cao ngọn cờ hòa bình, phát triển, hợp tác, xây dựng thế giới hài hòa, làm cho các giá trị Trung Quốc đi ra thế giới”.“Xây dựng thế giới dân chủ, không có bá quyền là nội dung quan trọng của giá trị quan chủ yếu của Trung Quốc, có sức hấp dẫn lớn để vẫy gọi và dẫn dắt thế giới”. Văn hóa Trung Quốc là là văn hóa bảo vệ lục địa kiểu phòng ngự chứ không giành quyền trên biển kiểu tấn công của phương Tây.Tác giả cho rằng lịch sử cận đại đã từng chứng kiến các nước lớn trỗi dậy có đặc điểm chung là “Trỗi dậy về quyền trên biển”, “Trỗi dậy bành trướng”, “Trỗi dậy thực dân” và “Trỗi dậy chiến tranh”. Đó là những hành động theo luật rừng!
Tiếc thay, các nội dung có tính chiến lược để thực hiện Giấc mơ Trung Quốc đã không được nhà cầm quyền Bắc Kinh tiếp thu. Ngược lại, những lời tác giả chỉ trích các nước lớn thực dân xâm lược ở thế kỷ 19 nghe giống như những dòng tin và bình luận thời sự chỉ trích nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay: Mời thầu khai thác dầu trên thềm lục địa Việt Nam; Lập thành phố Tam Sa và đồn binh trên quần đảo của Việt Nam; xua hằng vạn tàu cá có tàu vũ trang đi kèm xông vào vùng biển Việt Nam; liên tục khiêu khích Ấn Độ, Nhật Bản, Phillipines … Hằng ngày báo chí Trung Quốc kích động thù hằn dân tộc, đe dọa dùng vũ lực đánh chiếm Việt Nam, gây chia rẽ các nước ASEAN, khiêu khích Mỹ.
Chương cuối của Giấc mơ Trung Quốc có tiêu đề “Kêu gọi Thuyết Trung Quốc sụp đổ”! Nếu xử lý không đúng thì “nước lớn trỗi dậy cách nước lớn sụp đổ chỉ có một bước”. Theo tác giả, “Hiện nay, chênh lệch giàu nghèo ở Trung Quốc quá lớn, số lượng người có kỹ năng thì ít, lại thiếu đất cho sáng kiến nảy nở, do đó trong cạnh tranh sau này sẽ ở vào phía bất lợi. Nền kinh tế không có sáng kiến, không có giá trị phụ gia, một khi đã suy sụp thì khó duy trì trật tự xã hội cơ bản. Trung Quốc đang có những tiêu cực vào bậc nhất thế giới. Theo “Tư liệu báo chí” số 10, của báo Giải Phóng Quân năm 2009: Trung Quốc có số quan tham cao nhất thế giới; số lượng quan lại đông nhất thế giới; giá thành việc hành chính cao nhất thế giới; chi phí công quỹ nhiều nhất thế giới; số người chết vì các loại tai nạn cao nhất thế giới; số vụ dối trá, lừa gạt, làm hàng giả, hàng nhái đứng đầu thế giới. Tác giả cho rằng nguy cơ chết người là “giới tinh anh chính trị” tài cán tầm thường, đặc quyền đặc lợi. Các Tổng thống Mỹ đều phải công khai tài sản, hi vọng quan chức Trung Quốc cũng sẽ phải đi qua cửa ải khai báo tài sản, một yêu cầu của trào lưu thế giới.
Tác giả nhận định, Trung Quốc phải giải quyết được 3 mâu thuẫn lớn:
·         Thứ nhất là mâu thuẫn với thiên nhiên: Trung Quốc đang ăn hết cả thế giới và gây tai họa môi trường toàn cầu.
·         Thứ hai là mâu thuẫn giữa người với người: Tình trạng căng thẳng giữa người giàu với người nghèo ngày càng tăng; căng thẳng giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ đã lên tới mức cao nhất kể từ thời lập quốc.
·         Thứ ba là mâu thuẫn với thế giới”: Trung Quốc đang bị toàn thế giới xem là một nước không có dân chủ, chưa có kinh tế thị trường, đang đe dọa khu vực và toàn cầu.
Nhân dân Việt Nam mong muốn nhà cầm quyền Bắc Kinh sớm nhận ra và có biện pháp khắc phục được 3 mâu thuẫn lớn trong Thuyết Trung Quốc sụp đổ, trở thành “giới chính trị tinh anh”, từ bỏ tham vọng bành trướng bá quyền, biết đâu là lợi ích chân chính của nhân dân Trung Quốc, biết phải làm gì để xây dựng được tình hữu nghị tốt đẹp với các nước láng giềng, tôn trọng “16 chữ vàng” đã cam kết với Việt Nam, thực hiện được “Giấc mơ Trung Quốc”.
Tống Văn Công (Viet-studies)
*****

Trung Quốc sẽ phải tìm cách thỏa hiệp về "đường 9 đoạn"
 - 10/8/2012
Sẽ ngây thơ hay ngốc ngếch nếu giới lãnh đạo Trung Quốc đặt cược khả năng trỗi dậy thành cường quốc toàn cầu một cách hòa bình và lặng yên của mình. Đến một lúc nào đó Mỹ sẽ tỉnh dậy từ giấc ngủ địa chính trị; và thực tế đã có dấu hiệu nước Mỹ đang mở dần con mắt.
Năm 2016, tỷ trọng trong nền kinh tế toàn cầu của Trung Quốc sẽ lớn hơn của Mỹ nếu tính theo ngang giá sức mua. Đó quả là một quá trình phát triển ngoạn mục; năm 1980, Mỹ chiếm 25% sản lượng sản xuất thế giới, trong khi tỷ trọng của Trung Quốc chỉ chiếm 2%. Tuy nhiên, sau 30 năm ứng xử khôn khéo về địa chính trị, Trung Quốc dường như đang sắp đánh mất sự khôn khéo ấy đúng vào thời điểm cần đến nhất.
Sẽ ngây thơ hay ngốc ngếch nếu giới lãnh đạo Trung Quốc đặt cược khả năng trỗi dậy thành cường quốc toàn cầu một cách hòa bình và lặng yên của mình. Đến một lúc nào đó Mỹ sẽ tỉnh dậy từ giấc ngủ địa chính trị; và thực tế đã có dấu hiệu nước Mỹ đang mở dần con mắt.
Nhưng Trung Quốc đã bắt đầu phạm phải những sai lầm nghiêm trọng. Sau khi Nhật Bản nhún nhịn trước áp lực của Trung Quốc và trao trả tự do cho một tàu cá Trung Quốc bị bắt hồi tháng 9/2010, Trung Quốc lại lên nước và yêu cầu một lời xin lỗi chính thức từ phía Nhật Bản, một động thái gây khó chấp nhận cho phía chính phủ Nhật.
Tương tự, khi đạn pháo Triều Tiên làm chết các dân thường Hàn Quốc hồi tháng 11/2010, Trung Quốc giữ thái độ khá im lặng. Sau những cân nhắc kỹ lưỡng, Hàn Quốc đã quyết định cử đại sứ tham dự lễ trao giải thưởng Nobel Hòa bình cho nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc đang bị giam giữ Lưu Hiểu Ba hồi tháng 12/2010.
Trung Quốc cũng khiến phía Ấn Độ "chạnh lòng" khi tự ý từ chối thị thực của một số quan chức cấp cao Ấn Độ. Thủ tướng Trung Quốc sau đó đã phải cố gắng xoa dịu tình hình trong cuộc gặp với thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, nhưng những sự khiêu khích như vậy đã để lại những sự mất tin tưởng đối với phía Ấn Độ.
Nhưng tất cả những sai lầm đó cũng chưa đáng kể so với những gì Trung Quốc đã làm với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hồi tháng 7. Lần đầu tiên trong 45 năm tồn tại, Hội nghị cấp Bộ trưởng ASEAN (AMM) không thể thống nhất về bản thông cáo chung, với lý do bên ngoài được đưa ra là vì nước chủ tịch ASEAN hiện nay, Campuchia, không muốn bản thông cáo nhắc đến các tranh chấp song phương về Biển Đông. Nhưng cả thế giới, trong đó có đa số các nước ASEAN, đều hiểu lập trường của Campuchia là kết quả của áp lực rất lớn từ phía Trung Quốc.
Nhưng chiến thắng của Trung Quốc hóa ra đạt được với cái giá quá đắt. Trung Quốc chiến thắng trong cuộc chiến "thông cáo chung", nhưng lại để mất 20 năm gây dựng thiện chí, kết quả của những nỗ lực như hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, ký kết tháng 11/2002. Quan trọng hơn, các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây từng tính toán rằng một ASEAN mạnh và đoàn kết là tấm đệm chắn giá trị chống lại mọi chiến lược kiềm chế của Mỹ. Còn nay, với việc toan chia rẽ ASEAN, Trung Quốc đã giúp Mỹ có cơ hội địa chính trị không thể tốt hơn để tiếp cận khu vực. Nếu như Đặng Tiểu Bình sống lại, chắc ông ấy sẽ cảm thấy vô cùng lo lắng.
Có thể không công bằng nếu đổ lỗi cho thất bại của ASEAN là do lỗi của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Có thể nhiều quan chức cấp dưới muốn thể hiện quan điểm cứng rắn với Biển Đông, nhưng chắc hẳn không nhà lãnh đạo Trung Quốc nào, nếu được lựa chọn, sẽ muốn đánh hỏng thông cáo chung AMM. Nhưng thực tế rằng nó đã xảy ra và chứng tỏ một kết quả tai hại của xuất phát từ quá trình ra quyết sách yếu kém gần đây của Trung Quốc.
"Đường 9 đoạn" mà Trung Quốc vẽ ra trên Biển Đông có thể sẽ chính là cái gông cùm lớn mang tên địa chính trị đeo vào cổ Trung Quốc. Việc Trung Quốc gửi công hàm, trong đó kèm bản đồ "đường 9 đoạn" lên Liên Hợp Quốc (LHQ) nhằm phản đối việc Việt Nam cùng Malaysia gửi tới LHQ báo cáo về ranh giới thềm lục địa hồi tháng 5/2009, là một hành động thiếu khôn ngoan. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc gửi kèm tấm bản đồ này trong một văn thư chính thức gửi cho LHQ và gây những những quan ngại to lớn trong một số nước thành viên ASEAN.
Cơ hội địa chính trị liên quan đến tấm bản đồ đã không bị Mỹ đánh mất, đó là lý do tại sao Mỹ, dù có phần khác thường, đã tiến hành một nỗ lực khác nhằm thông qua Công ước Luật Biển. Sau khi đệ trình đường đứt khúc 9 đoạn lên LHQ, Trung Quốc lâm vào tình thế không thể thắng vì khó có thể biện hộ cho tấm bản đồ này theo luật quốc tế. Nhà sử học nổi tiếng Vương Canh Vũ (Wang Gungwu) đã chỉ ra rằng "những tấm bản đồ đầu tiên đòi chủ quyền Biển Đông là của người Nhật và sau đó được Trung Hoa Dân quốc thừa hưởng".
Về mặt đối nội, "đường 9 đoạn" có thể gây rắc rối cho chính phủ Trung Quốc khi nó đem lại cho những người chỉ trích một thứ vũ khí lợi hại". Bất kỳ dấu hiệu thỏa hiệp nào sẽ đặt các chính khách đương quyền vào thế nguy hiểm. Nói cách khác, một vài mỏm đá ở Biển Đông đã khiến cho Trung Quốc hết sức chênh vênh.
Trung Quốc chắc chắn sẽ phải tìm cách thỏa hiệp về "đường 9 đoạn". Mà thực tế, Trung Quốc đã đang bắt đầu ngấm ngầm thỏa hiệp. Mặc dù "đường 9 đoạn" này bao gồm cả vùng biển Đông Bắc của quần đảo Natuna thuộc Indonesia, Bắc Kinh vẫn khẳng định riêng với Jakarta rằng Trung Quốc không đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Natuna hay vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia.
Những đảm bảo riêng tư này đã xoa dịu mối quan hệ với Indonesia. Vậy Tại sao Trung Quốc lại không có những thương lượng tương tự với các nước thành viên ASEAN khác?
Di sản để lại của hai nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có khác nhau, nhưng cả hai vị này đều có chung một điểm là sẵn sàng nhượng bộ về lãnh thổ để giải quyết tranh chấp biên giới. Điều này giải thích vì sao Trung Quốc khá rộng rãi với Nga trong việc xác định biên giới.
Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình làm được điều này vì cả hai đem lại cho Trung Quốc một sự lãnh đạo mạnh mẽ. Thách thức hiện nay đối với thế giới là ban lãnh đạo Trung Quốc đã trở nên "năm phe, bảy phái": không một nhà lãnh đạo nào đủ mạnh để có thể đơn phương nhượng bộ một cách khôn ngoan.
Không có gì sẽ xảy ra ở Trung Quốc cho đến khi hoàn tất quá trình chuyển giao lãnh đạo vào tháng 11. Chính quyền mới của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường sẽ cần một thời gian để củng cố. Tuy nhiên, Mỹ đang thức tỉnh. Và thế goiwis cũng sẽ thức tỉnh vào năm 2016. Câu hỏi lớn sau đó sẽ là: Liệu Trung Quốc có khôn khéo về địa chính trị trên cương vị cường quốc số 1 thế giới như khi còn ở cương vị số hai?
Đình Ngân (theo Project Syndicate)
*****
Giới học giả 'bắt bài' Trung Quốc
 - 15/8/2012
Một số nhà phân tích nhìn nhận, hành động leo thang của Trung Quốc gần đây chính là nhu cầu chính trị nhằm phục vụ cho quá trình chuyển giao hàng ngũ lãnh đạo, để cho chính phủ có dịp phô diễn sức mạnh ở một thời điểm cực kỳ nhạy cảm.
Trung Quốc không mong muốn kiểm soát toàn bộ Biển Đông, Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), chủ tịch một viện nghiên cứu của chính phủ Trung Quốc nói về tuyến đường thủy chiến lược, nơi cũng được tin là có chứa rất nhiều tài nguyên dầu khí nằm dưới đáy này.
Thực tế, Trung Quốc muốn 80% Biển Đông. Ông Ngô là một chính trị gia lão luyện của Trung Quốc, có sở thích tranh sơn dầu và những bộ đồ nội thất đẹp đẽ mang phong cách châu Âu. Ông thực tế rất gắt gao ủng hộ cho những tuyên bố chủ quyền lâu nay của Bắc Kinh đối với phần lớn Biển Đông trong trong một cuộc tranh chấp mà Trung Quốc ngày càng tỏ ra ngang ngạnh với một số quốc gia trong khu vực khiến các nước này lôi kéo Mỹ tham gia sâu hơn và cuộc xung đột.
Trung Quốc mới đây vừa thành lập một lực lượng quân đội đồn trú lớn hơn và mở rộng quy mô một cơ quan lập pháp đặt đảo Phú Lâm, (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam - người dịch) nơi cách Hải Nam hơn 200 dặm về phía tây nam. Mục tiêu của động thái này, ông Ngô ngang nhiên nói, là để cho phép Bắc Kinh "thực thi chủ quyền đối với tất cả các đảo và bãi đá trong Biển Đông" bao gồm hơn 40 đảo "đang bị chiếm giữ trái phép" bởi Việt Nam, Philippine và Malaysia.
Trong mấy tuần vừa qua, Trung Quốc liên tục gia tăng áp lực, cử đi các đội tuần tra với các tàu lớn hơn và liên tục đưa ra các các cảnh báo trên các tờ báo do chính phủ quản lý đối với Washington, yêu cầu Mỹ ngừng ủng hộ các đối tác châu Á chống lại Trung Quốc.
Ảnh minh họa
Giới lãnh đạo Bắc Kinh dường như đang cố gắng xiết chặt Biển Đông như một cách thể hiện cho người dân trong nước thấy rằng Bắc Kinh giờ đã là một cường quốc khu vực, có thể làm mọi thứ theo ý mình tại một khu vực từ lâu đã "được coi" là thuộc sở hữu chính đáng của mình.
Một số nhà phân tích thì nhìn nhận, hành động leo thang chính là nhu cầu chính trị nhằm phục vụ cho quá trình chuyển giao hàng ngũ lãnh đạo sau 10 năm mới diễn ra, để cho chính phủ có dịp phô diễn sức mạnh ở một thời điểm cực kỳ nhạy cảm.
Kishore Mahbubani, hiệu trưởng trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore, nói về hàng ngũ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc: "Họ phải cố gắng thể hiện để người dân trong nước thấy họ mạnh mẽ và táo bạo cho đến vài tháng tới. Họ phải chắc chắn rằng họ không bị nhìn nhận là kẻ yếu đuối".
Chính quyền Obama, bị báo động bởi sự quá trớn của Trung Quốc, đã lên tiếng, tranh chấp nên được giải quyết thông qua đàm phán, và do là một trong những hành lang thương mại quan trọng bậc nhất thế giới, Biển Đông nên được hưởng sự tự do hàng hải. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, trong một tuyên bố mạnh mẽ hơn bình thường vừa qua nhằm cảnh báo Trung Quốc nên ôn hòa hơn trong thái độ, nêu rõ, Washington tin rằng những tranh chấp chủ quyền có thể được giải quyết hòa bình, "không ép buộc, không dọa nạt, không đe dọa sử dụng vũ lực và không sử dụng vũ lực".
Washington đã phản ứng lại với những gì mà Mỹ coi là một chiến dịch ngoan cố của Trung Quốc đối với Biển Đông sau khi Bắc Kinh góp phần ngăn cản ASEAN, tại một hội nghị thượng đỉnh tại Campuchia hồi tháng 7, ra bản thông cáo chung nêu cách tiếp cận chung về Biển Đông.
Tranh chấp không ngừng leo thang. Ngày 31/7, đúng dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Quân đội giải phóng nhân dân, Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã tuyên bố thành lập "một hệ thống tuần tra trực chiến" tại các vùng biển "thuộc quyền tài phán" của Trung Quốc.
Chính phủ Trung Quốc sau đó cho biết, đã hạ thủy một tàu tuần tra mới nhất, loại 5,400 tấn. Tàu được thiết kế đặc biệt để bảo vệ "chủ quyền biển", tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đưa tin.
Các nước láng giềng càng không khỏi quan ngại khi một tàu khu trục của hải quân Trung Quốc bị phát hiện mắc cạn gần một khu vực bãi đá có tên là bãi Trăng Khuyết hồi tháng 7, trong vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines. Vụ tai nạn đặt ra câu hỏi về năng lực của hải quân Trung Quốc và mối hoài nghi về mục đích hoạt động của con tàu tại đây.
Thế nhưng, Ngô Sĩ Tồn, chủ tịch Viện Nghiên cứu Nam Hải, một viện nghiên cứu quốc gia của Trung Quốc về Biển Đông, thậm chí vẫn quả quyết, mọi hành động của Trung Quốc đều không hề khiếm nhã.
Khi được phỏng vấn tại văn phòng rộng rãi được trang trí các bức tranh phong cảnh của Ý và Nga, ông vừa trở về sau một ngày tham dự buổi lễ mở rộng cơ quan lập pháp và đơn vị đồn trú trên đảo Phú Lâm.
Phú Lâm, một hòn đảo đầy cát bao quanh, rộng chưa đầy một dặm vuông, với một đường băng có khả năng phục vụ các máy bay hành khách hạng trung, thực tế là một đảo trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Một chiếc Boeing 737 đưa những hành khách đặc biệt tới tham dự buổi lễ, trong đó có người đứng đầu Đảng Cộng sản Trung Quốc tại tỉnh Hải Nam, đến để chúc mừng các cán bộ, và đơn vị đồn trú mới, ông Ngô tiết lộ.
Sự hiện diện lớn hơn của quân đội Trung Quốc trên hòn đảo khiến Philippines đặc biệt lo ngại bởi nó đưa Trung Quốc có mặt tới gần hơn các đảo thuộc Biển Đông mà Philippine tuyên bố chủ quyền.
Kể từ những năm 1990, khoảng 620 cư dân hòn đảo Phú Lâm đã được hưởng nước uống, điện sinh hoạt và có máy điều hòa nhiệt độ. Cơ quan lập pháp 45 thành viên mới, đặt tại ngôi nhà gạch hai tầng với các trụ và mái vòm treo các tấm rèm xanh đỏ để chuẩn bị cho buổi lễ, được thành lập để ban hành luật lệ về các vấn đề biển trên Biển Đông, ông nói.
Tại viện nghiên cứu của ông Ngô, trên đảo Hải Nam, một tòa nhà mới đẹp đẽ, khách tới thăm được mời vào một phòng kính hiện đại và được mở xem một đoạn video tuyên truyền về chính sách. Đoạn băng dám nói Trung Quốc có các quyền biển với khu vực rộng lớn của Biển Đông, mặc dù không nói cụ thể là bao nhiêu. Chừng 1.4 triệu dặm vuông Biển Đông "có tầm quan trọng đối với tương lai trở thành một quốc gia biển không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc", bởi Biển Đông là tuyến đường thương mại nối giữa Trung Quốc và Mỹ, châu Phi và châu Âu, đoạn băng phân tích.
Phó giám đốc viện nghiên cứu Lưu Phong (Liu Feng), nói Trung Quốc không chỉ tuyên bố chủ quyền với phần lớn các đảo trên Biển Đông, mà còn cả các quyền hàng hải, khai thác thủy hải sản và khoảng sản "trong toàn bộ đường chín đoạn".
"Đường chín đoạn", xuất hiện trong các văn kiện chính phủ và thậm chí trong tờ tạp chí hàng không nội địa của hãng Air China, là một trong những điểm chính gây xung đột trong các tranh chấp Biển Đông. Đường chữ U này kéo dài về phía nam, ép sát Việt Nam và Philippine ở hai bên trước khi "liếm" gần tới Malaysia. Bản đồ được vẽ từ trước khi nhà nước Trung Quốc hiện nay thành lập, nhưng không được bất cứ quốc gia nào công nhận.
Về vấn đề mất bao lâu để Trung Quốc giành lấy các đảo đang yêu sách chủ quyền, ông Ngô cho biết, ông không thể đoán trước. Các quốc gia tuyên bố chủ quyền khác vẫn rất kiên định, ông phải thừa nhận. Tuy nhiên, sự tái can dự của Mỹ vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương nghĩa là "chúng tôi sẽ gặp trở ngại trong việc giải quyết các vấn đề Biển Đông giữa Trung Quốc với các quốc gia tuyên bố chủ quyền khác".
Sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ trích hành động của Trung Quốc, Bắc Kinh lập tức lên tiếng cáo buộc Washington hùa theo các nước châu Á nhỏ hơn để chống lại Trung Quốc. Ngày 4/8, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu tập Robert S. Wang, phó trưởng đoàn đại diện Mỹ tại Bắc Kinh, và gửi đi một tuyên bố nói rằng Bộ Ngoại giao Mỹ đã thể hiện "hoàn toàn thiếu tôn trọng sự thật, gây nhầm lẫn đúng sai, và phát đi một tín hiệu sai lầm nghiêm trọng".
Đình Ngân theo NYTimes
*****

Trung Quốc: Được - mất với quân bài 'chơi rắn'
 17/8/2012
Việc bố trí quân đội và đấu tranh ngoại giao từ năm 2009 tới giữa năm 2011 đã gây căng thẳng cho tất cả các bên.
Vùng biển Đông - được quan tâm lâu nay, cùng với eo biển Đài Loan (Trung Quốc) và bán đảo Triều Tiên là một trong ba điểm nóng của khu vực Đông Á lại dậy sóng một lần nữa.
Tuyên bố của Trung Quốc về việc triển khai quân tới quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam) sau một tháng "lớn tiếng" đòi chủ quyền tại vùng biển tranh chấp, sự hiện diện của hải quân nước này tại khu vực này cũng ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Trung Quốc đã làm chia rẽ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) khiến Hội nghị bộ trưởng ngoại giao của các nước trong khu vực này không thể đưa ra một tuyên bố chung, điều chưa từng xảy ra trong 45 năm qua.
Việc bố trí quân đội và đấu tranh ngoại giao từ năm 2009 tới giữa năm 2011 đã gây căng thẳng cho tất cả các bên. Trên thực tế, việc vùng Biển Đông trải dài từ Singapore tới Đài Loan được đánh giá là đường hàng hải nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, với một phần ba lưu lượng vận chuyển của thế giới quá cảnh qua đây.
Nhiều quốc gia láng giềng cũng yêu sách chủ quyền tại Biển Đông... Và bây giờ Biển Đông được xem như một nơi thử nghiệm quan trong trong cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ, với việc Trung Quốc bành trướng muốn có thêm vây cánh, và Mỹ thì đang nỗ lực cắt bỏ những vây cánh đó để duy trì vị thế của mình trong khu vực và toàn cầu.
Các vấn đề pháp lý và chính trị liên quan đến cuộc chiến tranh giành chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên biển, nguồn năng lượng và các quyền hàng hải đi kèm với chúng là vấn đề khá phức tạp. Các sử gia trong tương lai có lẽ sẽ phải vận dụng đến câu nói của cựu Thủ tướng Anh Lord Palmerston đã từng sử dụng hồi thế kỷ 19 để nói về vấn đề Biển Đông đó là khi ông Lord Palmerston nói về vấn đề tranh chấp giữa hai vùng đất Schleswig - Holstein của Đức như sau: "Chỉ có ba người hiểu được vấn đề này. Trong đó một người đã chết, một người bị điên và người thứ ba là tôi nhưng tôi thì đã quên mất rồi."
Vấn đề lãnh thổ quan trọng hiện nay đang xoay quanh lợi ích của Trung Quốc thể hiện qua việc phân chia ranh giới không chính xác trong bản đồ "đường chín đoạn" (đường lưỡi bò) năm 2009 chiếm gần hết toàn bộ khu vực Biển Đông. Nếu như vậy, việc yêu cầu đối với chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc sẽ gồm cả bốn quần đảo đang tranh chấp đó là: Quần đảo Hoàng Sa ở phía Tây bắc (thuộc chủ quyền của Việt Nam); bãi đá Macclesfield, bãi đá ngầm Scarborough Reef ở phía bắc mà Phillípin đã tuyên bố chủ quyền; ngoài ra còn nhiều yêu sách khác xung quanh vấn đề Biển Đông đến từ các nước như Malaixia và Brunây, hoặc giữa từng quốc gia trên với Trung Quốc.
Hiện nay, tranh chấp giữa các bên về quyền lợi tại Biển Đông đang gia tăng mặc dù một số đảo chẳng có gì ngoài đá. Điều này, một phần là do Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển đã được tất cả các quốc gia nói trên phê chuẩn cho rằng, các quốc gia được quyền tuyên bố chủ quyền trong vòng 200 hải lý cho vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) (cho phép đặc quyền khai thác thủy sản và tài nguyên dầu).
Điều làm tăng thêm mối quan ngại của khối ASEAN về ý đồ của Bắc Kinh đó là, ngay cả khi Trung Quốc có thể tuyên bố chủ quyền một cách hợp lý đối với các đảo ở Biển Đông, và tất cả các quần đảo đều có thể sinh sống, thì vùng đặc quyền kinh tế EEZ gắn liền với các đảo đó cũng không bao gồm các vùng biển nằm trong đường lưỡi bò trong bản đồ năm 2009 mà Trung Quốc đưa ra.
Điều này đã gây ra những lo ngại, không phải là vô căn cứ khi nhận thấy rằng Trung Quốc không có ý định tuân thủ theo những điều khoản quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, và có lẽ sẽ đưa ra tuyên bố về chủ quyền dựa trên "lịch sử mở rộng".
Một cách thức hợp lý hơn cho thời gian tới có thể bắt đầu nếu tất cả các bên đều bình tĩnh trước hành động khiêu khích của Trung Quốc và lời kêu gọi chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên trong.
Một báo cáo được Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) phát hành vào tháng Tư cho biết các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông trong vòng ba năm qua dường như nổi lên từ những sự khơi mào không nhất quán của các 'diễn viên' nội địa khác nhau, bao gồm chính quyền địa phương, cơ quan thực thi pháp luật, các công ty năng lượng quốc doanh và Quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA).
Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiểu rõ về những hạn chế trong luật quốc tế hơn bất cứ ai và chưa làm gì vượt quá giới hạn. Nhưng với các hành động của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và các hành động khác gần đây, khi quá trình chuyển giao quyền lực của quốc gia này (gây ra căng thẳng cho nhiều quan chức chủ chốt ở trung ương) sẽ hoàn tất vào cuối năm nay, đó là lý do để hy vọng Trung Quốc sẽ có thái độ kiềm chế hơn.
Yêu cầu các bên làm theo đòi hỏi của một bên là điều không tưởng và cũng sẽ không hiệu quả nếu yêu cầu các nước phải tuân thủ theo hành động của một nước khác.
Đó là nhận định của cựu Ngoại trưởng Australia- ông Gareth Evans về tình hình Biển Đông. Ông Evans hiện là Chủ tịch danh dự của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) và là hiệu trưởng danh dự của ĐH Quốc gia Australia (ANU), đồng Chủ tịch của Trung tâm toàn cầu về Trách nhiệm bảo vệ.
Trung Quốc có thể và nên hạ nhiệt bằng cách cân nhắc lại các phương sách giảm thiểu rủi ro và gây dựng lòng tin một cách ôn hòa hơn như đã thỏa thuận với ASEAN năm 2002 - và xây dựng trên nền tảng đó bộ nguyên tắc ứng xử đa phương mới. Và, càng sớm càng tốt, nó cần phải được định nghĩa chính xác, với sự tham khảo các nguyên tắc đã được hiểu và chấp nhận, để biết tuyên bố chủ quyền thực sự của họ là đến đâu. Chỉ khi đó vị thế của nhà nước Trung Quốc mới có được sự tin tưởng dựa trên những nguyên tắc hấp dẫn về thỏa thuận chia sẻ tài nguyên trong khu vực và tranh chấp lãnh thổ mà hiện vẫn còn chờ nghị quyết cuối cùng từ các bên tranh chấp chủ quyền.
Về phần mình, Mỹ trong khi lý giải cho việc tham gia vào tranh chấp là nhằm chống lại hành động quá khích của Trung Quốc trong hai năm 2010 và 2011, cần phải thận trọng trong việc gia tăng những chính sách về khu vực này.
Việc quân đội Mỹ "quay trục" hướng đến châu Á gây rạn nứt trong quan hệ Mỹ với Trung Quốc và việc duy trì quan hệ ngoại giao cũng khó khăn hơn trong thời kỳ chuyển giao quyền lực.
Một điểm tích cực và được hoan nghênh rộng rãi đó là việc Mỹ có thể thông qua Công ước về Luật biển, qua đó các nguyên tắc sẽ buộc phải là nền tảng cho việc chia sẻ tài nguyên một cách hòa bình trong vùng Biển Đông cũng như ở mọi nơi.
Yêu cầu các bên làm theo đòi hỏi của một bên là điều không tưởng, nó cũng sẽ không hiệu quả nếu yêu cầu các nước phải tuân thủ theo hành động của một nước khác.
Mai Linh theo Project Syndicate
*****

Ước mơ siêu cường của Trung Quốc trên Biển Đông

Petrotimes - 18/08/2012
Trong ấn bản Winter 2010 của chuyên san Orbis thuộc Viện Nghiên cứu chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, James Kraska - nguyên cố vấn chính sách của Giám đốc Cục Hoạch định chính sách chiến lược thuộc Bộ Tổng tham mưu Lục quân Hoa Kỳ - đã khiến nước Mỹ sởn gai ốc khi hình dung rằng, vào năm 2015, chiếc Hàng không mẫu hạm (HKMH) trị giá 9 tỉ USD USS George Washington có thể bị Trung Quốc (TQ) đánh một phát chìm nghỉm! Loại vũ khí nào của TQ mà James Kraska cho rằng có thể hạ gục HKMH Mỹ?
Bài 2: Con ngáo ộp ASBM!
Trân Châu Cảng “phiên bản 2.0”?
Sự kiện (giả định) trên đã không chỉ cho thấy bức tranh thay đổi cán cân về sức mạnh hải quân tại châu Á mà còn “đưa đến một giai đoạn mới về trật tự quốc tế mới trong đó Bắc Kinh bắt đầu nổi lên thay thế Mỹ”. Và loại vũ khí kinh khủng đủ khả năng diệt được HKMH Mỹ đang được đề cập là thứ mà đã được nhắc với mật độ dày đặc nhiều năm qua: phản hạm đạo đạn (antiship ballistic missile-ASBM, tên lửa đạn đạo diệt HKMH). Với ASBM, cái thế “mất đối xứng” của TQ đối với Mỹ tại bàn cờ chiến lược quân sự Đông Nam Á không còn tồn tại. Với ASBM, TQ đã có thể thành công trong chiến thuật “dĩ lục chế hải” (dùng đất liền chế ngự hải dương).
Cách đây hai năm, trong cuộc phỏng vấn tờ Asahi Shimbun (dẫn lại từ Washington Times 26/12/2010), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ Robert F. Willard nói rằng, ASBM TQ đã bắt đầu đi vào “IOC” (khả năng hoạt động ở giai đoạn đầu). “Tình hình là đáng lo chứ không phải không, mà bởi (ASBM TQ) là mối họa đối với Đông Nam Á nên cũng là mối họa đối với nước Mỹ” - tướng Willard nói. Trong báo cáo đệ trình Quốc Hội (đề ngày 23/3/2012), chuyên gia Hải quân Ronald O’Rourke cho biết thêm, sát thủ ASBM đã được triển khai cho quân đội TQ vào đầu năm 2011…
Mô hình một vụ tấn công bằng ASBM
Bắn từ dàn phóng di động, với hỗ trợ của radar cùng hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng vệ tinh và máy bay do thám không người lái, ASBM của TQ, như được miêu tả, là hệ thống gồm tên lửa hai tầng (tầng một để phóng lên không trung và tầng hai là đầu đạn bay đâm ngược xuống để triệt hạ mục tiêu). Một ASBM đơn giản sẽ gồm loại tên lửa được lắp một đầu đạn nhưng nó có thể được nâng cấp để lắp nhiều đầu đạn để tăng mức hiệu quả sát hại. Thập niên 1970, Liên Xô đã phát triển tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 để diệt các mục tiêu di động của NATO. SS-20 thật sự là vũ khí đáng sợ (NATO chỉ có 4-6 phút cảnh báo sau khi SS-20 rời dàn phóng). Để chống trả, Tổng thống Ronald Reagan cho phát triển hệ thống bắn chặn Pershing II. Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh, với Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân tầm trung (INF) ký giữa Washington và Moskva tháng 12/1987, SS-20 và Pershing II đều được cho vào viện bảo tàng (theo nghĩa bóng lẫn đen).
Chú Sam “thúc thủ vô sách”?
Theo Marshall Hoyler (cựu Giáo sư Đại học Hải quân Hoa Kỳ) viết trên chuyên san Naval War College Review (Vol. 63, No. 4, Autumn 2010), 4 năm qua, TQ đã sản xuất từ 9-15 tên lửa DF-21D mỗi năm. Về phía Mỹ, Hoyler cho biết, hải quân họ có 18 tàu trang bị hệ thống Aegis chuyên bắn chặn được triển khai khắp thế giới, với hai loại tên lửa SM-2 Block IV và SM-3; trong đó SM-3 được thiết kế để “đón khách” ngoài tầng khí quyển, trong khi SM-2 Block IV có nhiệm vụ “bồi tiếp” nếu “khách” lọt qua hàng rào khí quyển và phăm phăm phóng đến mục tiêu (tức đầu đạn của đối phương sau khi tách ra khỏi tên lửa ngoài tầng khí quyển).
Tính đến cuối năm 2008 (nđd), Mỹ có 40 tên lửa SM-2 Block IV và 38 tên lửa SM-3. Theo “viễn kiến” của (cựu) Bộ trưởng quốc phòng Robert Gates vào tháng 4/2009, Mỹ cần phải có 220 SM-3 vào cuối năm 2015. Theo tính toán của Hoyler, Mỹ cần phải có 13 chiếc tàu trang bị hệ thống Aegis để đối phó Iran, ba chiếc đối phó với Bắc Triều Tiên và chín chiếc đối phó với TQ; và trong 220 tên lửa SM-3 được sản xuất đến trước năm 2015 như mong muốn của Robert Gates, phải có 148 cái dành riêng để tiếp “thượng khách” TQ ... Vấn đề ở chỗ, như nhận xét của Hoyler, bằng vào việc có nhiều tên lửa bắn chặn hơn, vẫn chưa chắc rằng Mỹ có thể thủ thắng trong cuộc đọ sức với ASBM-TQ. Tại sao?
Thứ nhất (nghe hệt như Hoyler đang “vẽ đường cho hươu chạy”!), là TQ có thể bắn DF-21 (loại tên lửa đạn đạo bình thường) để dụ đối phương bắn trả, rồi chờ đến khi Mỹ “hết đạn”, TQ mới xịt lên DF-21D ASBM thứ thiệt! Thứ hai, TQ có thể bắn “chim mồi”, bằng cách tung lên những quả bóng Mylar phủ aluminum. Đầu đạn thật sự sẽ được lắp trong một hoặc vài quả bóng như vậy; trong khi các quả bóng còn lại chứa pin lithium để làm tản nhiệt, khiến vệ tinh cảm ứng Mỹ chẳng biết đâu là quả bóng thật sự chứa đầu đạn hạt nhân. Thứ ba, TQ có thể “bọc áo” cho đầu đạn (phủ lớp làm nguội), khiến nó hoàn toàn không thể bị thiết bị cảm ứng hồng ngoại của Mỹ dò ra. Để tăng hiệu quả tấn công, TQ chỉ cần “sử” một trong ba cách trên hoặc cùng lúc dùng cả ba cách! Hoyler thậm chí còn “vạch áo cho người xem lưng”, khi cho biết, hầu hết tất cả thử nghiệm SM-3 của Mỹ đều thành công nhưng Mỹ chưa từng công bố thử nghiệm khả năng phân biệt “chim mồi” cũng như những giải pháp ứng chiến khác, để cho thấy Mỹ thật sự có đủ khả năng triệt khử ASBM. Đành phải “cam bái hạ phong” thôi!
Một con “ngáo ộp”!
Phải nói rằng ASBM, nếu thật sự được chế tạo thành công, là một “tuyệt tác” của vũ khí từ cổ chí kim. Nó xứng đáng được xem là biểu tượng đánh dấu một cuộc cách mạng “bài sơn đảo hải” trong quân sử thế giới. Nó sẽ làm thay đổi sâu sắc diện mạo chiến tranh, theo cách như bom nguyên tử cách đây hơn nửa thế kỷ. Nó không chỉ tái lập sự cân bằng quyền lực quân sự mà còn giúp “giành thiên hạ” về tay mình với ai sở hữu nó. Gút lại, ASBM là “tinh túy” của mọi thế hệ vũ khí ... Bởi vì, ASBM không phải là vũ khí mà là một hệ thống vũ khí. Nó là hệ thống của những hệ thống mà theo ngôn ngữ quân sự Mỹ thì đó là C4ISR (command, control, communications, computers, intelligence, surveillance, reconnaissance - chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát, do thám). Nó phải được vận hành và điều khiển với sự phối hợp đồng bộ, với mức chính xác phải ở chuẩn tuyệt đối, trong đó, bất kỳ sai lệch nào trong kỹ thuật học, toán học, vật lý đạn đạo học, vi tính học … cũng không thể được chấp nhận. Do vậy, cần phải phân biệt rõ rằng, việc chế tạo được loại tên lửa đạn đạo tầm xa như DF-21D là một chuyện nhưng việc đưa nó vào thành một hệ thống tinh vi phức tạp như ASBM hoàn toàn là chuyện khác. DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống mà thôi.
Một cách chính xác hơn, phải nói rằng tên lửa DF-21D chỉ mới là một phần của một hệ thống
Cho đến nay, dù giới lãnh đạo quân đội TQ nhiều lần nhắc đến việc chế tạo thành công DF-21D nhưng giới nghiên cứu quân sự thế giới chưa từng nghe nói đến bất kỳ cuộc thử nghiệm ASBM nào của TQ. Bằng vào cách ứng xử phô trương quen thuộc của TQ, một vụ thử nghiệm ASBM - nếu có - hẳn đã được làm rùm beng lên rồi. Bằng vào hệ thống viễn thám mà Mỹ ngày đêm theo dõi TQ, một cuộc thử nghiệm ASBM - cho dù là “bí mật quân sự tuyệt đối” - hẳn đã bị phát hiện rồi. Mà nếu chưa được mang ra thử nghiệm thì hệ thống ASBM, cho đến thời điểm này, vẫn là một con ngáo ộp! Với trình độ hiện tại của TQ, một hệ thống vũ khí “siêu hoàn hảo” theo chuẩn C4ISR, với khả năng đồng bộ hóa tất cả theo thời gian thật, là điều viễn tưởng của viễn tưởng!
Theo phân tích của Marshall Hoyler (nđd), dữ liệu từ vệ tinh truyền xuống mặt đất thường mất hơn năm phút và bộ chỉ huy phải mất thêm một ít thời gian để xử lý dữ liệu nhằm xác định vị trí chính xác của HKMH. Ngoài ra, còn phải tính thêm 10-15 phút để trạm phóng (TEL) chuẩn bị công đoạn “bật quẹt châm lửa” cho DF-21D. Khi rời TEL, ASBM lại cần thêm 12-15 phút để bay đến mục tiêu. Tổng cộng, ASBM TQ phải mất tối thiểu 32-35 phút. Trong khi đó, với vận tốc 35 gút, HKMH Mỹ có thể đã di chuyển xa khỏi điểm rơi được lập trình của đầu đạn ASBM.
Cụ thể, cứ mỗi phút mà ASBM phải mất, HKMH đã đi được hơn 1 km. Mất 32 phút mới đến được vị trí định sẵn thì mục tiêu đã rời xa tối thiểu 32 km rồi! ... Và cũng cần để ý chi tiết quan trọng nữa: tất cả tính toán thời gian nói ở trên, được thí nghiệm trên mô hình máy tính, đều giả định rằng, hàng “hậu vệ” dày đặc nổi tiếng giỏi tài “đốn giò” của hệ thống bắn chặn Mỹ đã bất lực trước ASBM; và giả định rằng giới lãnh đạo Bắc Kinh sẽ ra lệnh bắn ASBM khi ngay vệ tinh truyền đủ dữ liệu liên quan vị trí HKMH. Trong thực tế, sẽ còn mất thêm thời gian (không xác định được) để Bắc Kinh cân nhắc động thủ. Thời gian càng kéo dài, AOU của mục tiêu (“area of uncertainty”, thuật từ quân sự chỉ phạm vi tấn công có biên độ rộng khiến xác suất thành công thấp) sẽ càng giãn ra, và vệ tinh TQ lại phải mò mẫm lại từ đầu để tìm xem cái HKMH chết tiệt bây giờ đang ở “xứ mô” nào rồi …
Mạnh Kim
(Năng lượng Mới số 147, ra thứ Sáu ngày 17/8/2012)

*****

Gây hấn tại Biển Đông, Trung Quốc rơi vào thế kẹt

RFI - Thứ năm 23 Tháng Tám 2012

 

Quần đảo Điếu Ngư/Senkaku mà cả hai phía Trung Quốc và Nhật Bản đều đòi chủ quyền (Reuters)

Quần đảo Điếu Ngư/Senkaku mà cả hai phía Trung Quốc và Nhật Bản đều đòi chủ quyền (Reuters)

Trọng Thành


Về những căng thẳng mới đây tại vùng biển Đông Á và Đông Nam Á, hôm nay nhật báo Le Figaro đăng tải các nhận định của bà Stephanie Kleine-Ahlbrandt, phụ trách nghiên cứu thuộc nhóm chuyên gia phân tích chính trị quốc tế International Crisis Group, qua bài viết mang tựa đề Biển Trung Hoa: căng thẳng trong vùng nước đục”. Bài nhận định của Stephanie Kleine-Ahlbrandt bắt đầu với mô tả cuộc đổ bộ lên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku của những người Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền, vào tuần trước, như một sự kiện mới nhất trong các căng thẳng tại vùng biển phía Đông Trung Quốc, mà Bắc Kinh ngày càng tỏ ra ít khoan nhượng hơn.

Trong khi đó tại vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc cũng không ngừng gây hấn với các nước láng giềng Philippines và Việt Nam. Vào tháng Tư, Trung Quốc đã đưa tàu chiến tới khu vực bãi đá ngầm Scarborough, cách bờ biển Philippines khoảng 200 km, cùng với các tàu tuần ngư, để đáp lại việc hải quân Philippines không cho tàu cá của Trung Quốc khai thác hải sản tại khu vực này. Cho đến nay, tàu cá Trung Quốc vẫn ở lại khu vực bãi cạn Scarborough.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã gây áp lực kinh tế với Manila, với việc xiết chặt các điều kiện nhập khẩu hoa quả nhiệt đới, khiến Philippines bị thiệt hại 34 triệu đô la.
Vào tháng Sáu, khi Việt Nam ra luật Biển, đặc biệt liên quan đến hai quần đảo tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa, thì Trung Quốc ngay lập tức tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa, một đơn vị hành chính hết sức rộng lớn bao gồm các khu vực tranh chấp, và đồng thời thiết lập một căn cứ quân sự tại Hoàng Sa. Chính sách cứng rắn của Bắc Kinh một lần nữa được thể hiện với việc CNOOO, tập đoàn khai thác dầu khí lớn của nhà nước Trung Quốc, đưa ra một tuyên bố chào thầu ngay trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Theo chuyên gia của International Crisis Group, trong khi có vẻ như Trung Quốc lấn lướt các nước láng giềng Việt Nam và Philippines, thì điều hoàn toàn lô gic là Asean – Hiệp hội các nước Đông Nam Á phải xiết chặt hàng ngũ. Tuy nhiên, trong một hội nghị tại Phnompenh, Bắc Kinh đã khai thác được các chia rẽ trong nội bộ tổ chức này, với việc thúc đẩy Cam Bốt, đang nắm quyền chủ tịch luân lưu của khối, ngăn cản mọi cuộc tọa đàm thực sự về vùng biển Đông Nam Á. Lần đầu tiên kể từ 45 năm, Asean đã không ra được một thông cáo chung sau khi hội nghị kết thúc.
Cũng vào thời điểm này, bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cho biết sẽ triển khai các đơn vị tuần tiễu hải quân sẵn sàng chiến đấu, để đáp trả việc máy bay quân sự Việt Nam bay trên quần đảo Trường Sa. Như vậy, Trung Quốc có ý định ưu tiên can thiệp của hải quân, thay vì các tàu hải giám như các đụng độ trước đó.
Một số dấu hiệu nữa cho thấy thái độ cứng rắn của Bắc Kinh là việc triệu một nhà ngoại giao cao cấp của Hoa Kỳ lên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, sau khi Washington chỉ trích các động thái khiêu khích của Trung Quốc tại vùng biển Đông Nam Á. Đây là một phản ứng hiếm thấy từ phía Bắc Kinh, lần gần đây nhất là để phản đối việc Mỹ quyết định bán vũ khí cho Đài Loan. Điều này cho thấy, Bắc Kinh rất nhạy cảm với can thiệp của Hoa Kỳ trong các tranh chấp biển và ý nghĩa ngày càng lớn mà Trung Quốc dành cho các đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông.
Để kết luận nhà nghiên cứu Stephanie Kleine-Ahlbrandt cho rằng, thái độ cứng rắn của Trung Quốc có thể làm lợi cho Hoa Kỳ, đẩy Việt Nam và Philippines về phía Washington. Bên cạnh đó, trước một công luận ngày càng bức xúc trước các tranh chấp chủ quyền biển đảo và đòi hỏi chính quyền phải có các hành động cứng rắn, Bắc Kinh có thể sẽ buộc phải phản ứng một cách hung bạo để không bị mất mặt. Bị ở vào thế kẹt và không tránh được một đụng độ vũ trang rõ ràng là điều mà chính quyền Trung Quốc ít mong muốn nhất.

*****

Tướng Kiều Lương: Trung Quốc bàn cách dùng vũ lực độc chiếm Biển Đông


Bauxite Việt Nam - 01/09/2012


Đọc bài này lúc thì nghĩ là viên tướng này kể cũng có đầu óc “chiến lược” thật, lúc lại thấy cái thứ “lý luận quân sự” của ông ta chả có tư duy luận lý quân sự gì ráo mà chỉ là trơ tráo, đúng kiểu ngông nghênh, hiếu chiến “anh hùng rơm”. Rồi lại bỗng thấy hài hước, bởi đây quả là một kẻ giảo hoạt, hót đúng bài của Trung Nam Hải, kể cả cái thói láu cá “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, cũng như thủ đoạn cũ mèm hết giương Đông lại kích Tây. Tuy nhiên, tất cả những điều trên hình như cũng không che khuất được một nỗi lo đang thành hình trong ông ta, cũng là của chính quyền Bắc Kinh – đó là sự liên kết tất yếu của các nước ASEAN và các nước có quyền lợi ở Biển Đông, ở Hoa Đông,... bên cạnh một Hoa Kỳ hùng mạnh.
Bauxite Việt Nam

(GDVN) - Để chiếm đoạt toàn bộ đảo, đá và tài nguyên ở biển Đông, tướng Kiều Lương Trung Quốc đề xuất học Mỹ sử dụng “chiến tranh siêu giới hạn”.

clip_image002

Kiều Lương - Thiếu tướng Không quân Trung Quốc


Ngày 29- 8, Thiếu tướng Kiều Lương, Giáo sư chiến lược Học viện Chỉ huy Không quân, Phó Tổng thư ký Ủy ban Nghiên cứu Chính sách An ninh Quốc gia Trung Quốc có bài viết trên Tân Hoa xã khẳng định chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư (hay đảo Senkaku hiện do Nhật Bản kiểm soát thực tế) và biển Đông (một cách bất hợp pháp), đồng thời bày đặt cách thức kiểm soát đối với các hòn đảo và vùng biển có liên quan.
Theo Kiều Lương, những công dân Trung Quốc đổ bộ lên đảo Senkaku vừa qua là một sự bảo vệ nghiêm túc đối với chủ quyền quốc gia. Tàu hải giám, ngư chính Trung Quốc hoạt động chấp pháp (trái phép) ở vùng biển bãi cạn Scarborough cũng là “sự biểu thị công khai và bảo vệ đối với chủ quyền quốc gia của Trung Quốc”.
Kiều Lương đánh giá, trong năm qua, trước tiên là bãi cạn Scarborough ở biển Đông, kế tiếp là đảo Senkaku ở biển Hoa Đông đã liên tiếp nổi lên tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, gây chú ý cho dư luận trong và ngoài nước, thời cơ và cường độ xảy ra cũng nhiều dư vị.
Kiều Lương chỉ ra 3 “nguyên nhân” làm cường độ tranh chấp biển Hoa Đông, biển Đông đột ngột mạnh lên: Một là ý thức an ninh và ý thức “bảo vệ quyền lợi biển” của Trung Quốc ngày càng tăng cường. Theo Kiều Lương, do tài nguyên trên thế giới khan hiếm và do Trung Quốc có nhu cầu tài nguyên ngày càng lớn, nên Trung Quốc đã và sẽ rắn mặt, bất chấp luật pháp quốc tế.
Hai là, Nhật Bản tăng cường kiểm soát đối với vùng biển xung quanh đảo Senkaku và “một số nước Đông Nam Á gia tăng chủ quyền, tài nguyên dầu khí ở biển Đông khiến TQ đứng ngồi không yên mặc dù các tuyên bố chủ quyền của TQ tại các khu vực này đều phi pháp, phi lý.
clip_image003
Công dân Hồng Kông xông lên đảo Senkaku (hiện do Nhật Bản kiểm soát thực tế) cắm cờ Trung Quốc khẳng định chủ quyền


Ba là, Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang hướng Đông (khu vực châu Á-Thái Bình Dương), theo ý chủ quan của Kiều Lương thì điều này “làm cho một số nước láng giềng có sức mạnh để đối đầu với Trung Quốc”.
Với ba nguyên nhân trên, ông tướng học giả này đã đổ lỗi hết cho các nước xung quanh và coi như Trung Quốc chỉ ứng phó bị động trong thời gian vừa qua với các vấn đề tranh chấp đảo Senkaku, tranh chấp bãi cạn Scarborough cho tới tranh chấp Biển Đông.
Theo đó, Kiều Lương nhấn mạnh, 3 nguyên nhân, 3 yếu tố trên thúc đẩy lẫn nhau, đã tạo ra cục diện tranh chấp biển Hoa Đông, biển Đông ngày càng gay gắt hiện nay. Ông nói: “Ở một góc độ nào đó, thực chất của tranh chấp biển Đông là sự va chạm/xung đột gián tiếp của Trung-Mỹ trong vấn đề biển Đông”.
Kiều Lương đổ lỗi cho Mỹ mà cho rằng, sau khủng hoảng tài chính, Mỹ ngày càng có ít con bài trong tay, nhưng Mỹ luôn tìm cách có được một con bài nào đó để ngăn chặn Trung Quốc. Mỹ đã dùng con bài “vấn đề biển Đông” để chặn “chân sau” của Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không có thêm sức mạnh để thách thức bá quyền của Mỹ.
Kiều Lương cho rằng, ngay từ đầu năm 2012, Mỹ mạnh mẽ tuyên bố chuyển trọng tâm chiến lược tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, ngoại giao, an ninh, động thái dồn dập, “đã diễn xiếc liên tục làm hoa cả mắt”.
Trước hết là thông qua diễn tập quân sự ở biển Hoàng Hải để kéo gần hai nước Nhật Bản, Hàn Quốc. Sau khi ổn định thế trận ở Đông Bắc Á, Mỹ quay đầu xuống phía Nam, dùng phương thức diễn tập quân sự liên hợp để khuyến khích một số nước Đông Nam Á liên tục gây chuyện với Trung Quốc ở biển Đông - Kiều Lương nhận xét.




Sau đó, Mỹ bày tỏ “thiện chí” với chính phủ Myanmar, đóng đinh chốt vào giữa Trung Quốc và Myanmar; đồng thời tiếp tục đàm phán với Singapore về vấn đề triển khai tàu chiến đấu duyên hải tốc độ nhanh; xây dựng quan hệ “đối tác chiến lược” với Ấn Độ.
Kiều Lương nghĩ rằng, các nước Đông Nam Á không muốn bất cứ nước lớn nào chủ đạo/lãnh đạo khu vực này, vì vậy đứng trước một nước Trung Quốc trỗi dậy, họ hy vọng lôi kéo Mỹ để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Nhưng, các nước nhỏ “chơi trò cân bằng giữa các nước lớn, xưa nay đều rất nguy hiểm”. Theo Kiều Lương, Philippines “ngây thơ” cho rằng, Mỹ sẽ giúp không cho Philippines.
Bàn về cách thức kiểm soát biển Đông, Kiều Lương nhấn mạnh: Trong những năm gần đây, Trung Quốc ngày càng mạnh về sức mạnh kinh tế và quân sự. Nhưng điều quan trọng nhất là, tư duy, tâm tính và phương pháp phải tích cực thay đổi theo tình hình của bản thân Trung Quốc và tình hình quốc tế.
Kiều Lương cho rằng, "về cách thức bảo vệ an ninh và quyền lợi quốc gia, từ chiến lược tới sách lược phải có sự tính toán tổng thể, đối phó với biện pháp tổ hợp thì phải có “quyền thuật tổ hợp”".
Kiều Lương nhận định sặc mùi hiếu chiến, vô trách nhiệm rằng, "hiện nay không thể gác lại tranh chấp nước, có nước láng giềng “xấu xa” đang ngày càng ngang ngược ở cửa nhà của Trung Quốc. Trong tình hình đó, “phải đánh ngã họ, đoạt lại đồ của mình”; còn một biện pháp nữa là đàm phán giải quyết. Ông này cho rằng, trong giải quyết tranh chấp quốc tế, lợi ích hoàn toàn không thể nhượng bộ thì không thể nhượng bộ".


Kiều Lương tiếp tục nhấn mạnh “chủ quyền” phải “thuộc về Trung Quốc”, sự nhượng bộ của Trung Quốc là “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Ông tướng này coi đây là “đường biên ngang” (giới hạn). Nếu vượt qua đường biên này thì phải kiên quyết đến cùng, cùng “không” khai thác.
Ông nói rằng, “giấu mình” không phải là nhường nhịn, mà là “không muốn nói toạc ra”, là “nói nhẹ nhàng”, việc nên làm thì phải làm và bắt buộc phải làm.
Kiều Lương cho rằng, các thủ đoạn đối đầu quân sự hiện đại rất đa dạng như có thể dùng quân đội, chiến tranh. Nhưng theo Kiều Lương, trong tranh chấp các hòn đảo ở biển Đông, nhìn từ góc độ quân sự, đánh (sử dụng vũ lực) không thành vấn đề, quan trọng là đánh rồi làm thế nào. Điều này không chỉ là vấn đề quản lý và xây dựng các đảo đá thế nào, mà là vấn đề đối mặt thế nào với thế giới, đặc biệt là Mỹ và ASEAN. Những vấn đề này phức tạp hơn nhiều, gai góc hơn nhiều so với “đánh”.
Trong vấn đề biển Đông, ở góc độ “chiến tranh siêu giới hạn”, ông tướng Kiều Lương cho rằng, phải học hỏi Mỹ, xem Mỹ xử lý các vấn đề tương tự thế nào, xem Mỹ nhiều lần “tấn công nhầm” ở biên giới Pakistan và nước khác như thế nào thì sẽ hiểu được vấn đề.
Nguyên lý của “chiến tranh siêu giới hạn” là thủ đoạn và tấn công “tổ hợp”. Trong vấn đề biển Đông, theo Kiều Lương, có thể vận dụng tấn công “tổ hợp”, khi ra trận phải tấn công đan chéo, không phải đâm đầu tấn công. Không đánh trận không có nghĩa là không sử dụng vũ lực, không có nghĩa là không có xung đột, quan trọng là phải kiểm soát cường độ thế nào.
Theo Kiều Lương, TQ phải vừa thông qua các hành động đặc biệt để nói rõ “giới hạn” do Trung Quốc bày đặt ra, vừa chưa đến mức đẩy tất cả các nước đến trạng thái chiến tranh.


Kiều Lương đoán là, nếu không thực sự động chạm đến lợi ích cốt lõi quan trọng của Mỹ thì Mỹ không sẵn sàng thậm chí không dám vì các nước như Philippines mà quyết đấu với Trung Quốc. Giữa Trung Quốc và Mỹ có lợi ích chiến lược lớn hơn phải lệ thuộc vào nhau.
Vì vậy, lợi ích của hai nước Trung-Mỹ không thể bị nước nhỏ “lừa lọc, bắt cóc”. Ngược lại, nếu Trung-Mỹ xảy ra xung đột, thì cả hai bên đều chịu thiệt, chắc chắn sẽ làm xuất hiện cục diện về sự trỗi dậy của bên thứ ba như EU, Nga, Nhật Bản, thậm chí Ấn Độ, Brazil.
Vì vậy, Trung Quốc không nhất định đứng đối lập với Mỹ trong tất cả các vấn đề, quan trọng là xem có lợi cho mình hay không (quá thực dụng!). Trong ứng xử với yếu tố Mỹ, theo Kiều Lương thì Trung Quốc phải có “trí tuệ lớn nhất, sách lược cao nhất, nhẫn nại bền bỉ nhất”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhiều lần tuyên bố, Mỹ phải sử dụng sức mạnh thông minh (khéo léo), Trung Quốc cũng có thể làm như vậy.
Nhìn lại lịch sử, kinh nghiệm quan trọng nhất trong sự trỗi dậy của Mỹ là quyết không để mình đối đầu trực tiếp với đế quốc Anh, mà là cổ vũ các nước khác đối đầu với Anh, sau đó để bản thân trèo lên đỉnh một cách thuận lợi.
Kiều Lương cho rằng, Trung Quốc là một nước lớn trưởng thành, với ý nghĩa quốc gia hiện đại, Trung Quốc còn đang ở thời đại “trẻ con”, cần phải trả giá rất nhiều mới có thể học được cách làm một nước lớn hiện đại.
Người dân có cảm giác là Trung Quốc – một nước lớn mà lại còn “hèn nhát”, bởi vì người dân cũng đang “lớn lên”, không hiểu lắm về quy tắc trò chơi chính trị, quân sự của thế giới hiện nay. Trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc không chỉ phải có đầy đủ trí tuệ chiến lược, mà còn phải có đầy đủ nhẫn nại chiến lược.
clip_image011
Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược quay trở lại khu vực châu Á-Thái Bình Dương



Nguồn: giaoduc.net.vn
*****
Hải quân Trung Quốc chưa đáng ngại ở biển Ðông

Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp) - Saturday, September 01, 2012
HOA KỲ -Người ta đã nói nhiều đến nỗ lực phát triển hải quân của Trung Quốc trong hai thập kỷ vừa qua và hiện nay tình trạng căng thẳng trên biển Ðông do những hành động gây hấn của nước lớn này khiến có sự lo ngại xung đột có thể xảy ra trong khu vực.
Tuy nhiên, theo phân tích và nhận định của nhiều quan sát viên quốc tế, mặc dầu với lực lượng áp đảo, khả năng dùng vũ lực để thực hiện ý đồ bành trướng có nhiều giới hạn về chính trị, ngoại giao cũng như thực lực của Trung Quốc.
Các chuyên gia quân sự thế giới đánh giá hải quân Trung Quốc vẫn còn ở chừng mực “hạm đội duyên hải,” chưa đủ khả năng hoạt động viễn dương. Hiện nay, hải quân Trung Quốc có khoảng 70 tàu chiến thuộc hạng khu trục hạm hay hộ tống hạm và 60 tàu ngầm trong đó có 10 tàu ngầm nguyên tử. Tàu dân sự hay bán quân sự, kiểu như các tàu hải giám, có thể hỗ trợ khi có chiến tranh, ngoài ra hàng chục ngàn tàu đánh cá là một thứ “dân quân trên biển” thi hành được nhiều công tác, nhưng tất nhiên cũng chỉ trong phạm vi cận duyên hay nhiều lắm là ở một phần biển Ðông.
Chiếc hàng không mẫu hạm Variag cũ của Liên Xô hạ thủy từ năm 1988 mà Trung Quốc mua lại của Ukraine 10 năm sau trong tình trạng giải giới hoàn toàn chỉ còn là một thân tàu trống, được kéo về và sau đó tân trang hoàn toàn tại quân cảng Ðại Liên. Năm ngoái, Variag - tên mới chưa chính thức là Thi Lang - đã bắt đầu chạy thử chuyến đầu tiên. Cuối Tháng Tám vừa qua, báo chí Trung Quốc ồn ào loan tin Thi Lang chuẩn bị bước vào đợt thử nghiệm thứ 10.
Nhưng phóng viên David Lague của hãng thông tấn Reuters cho rằng chiếc hàng không mẫu hạm Trung Quốc chỉ “hữu danh vô thực”. Theo ông, Thi Lang chưa có phi đội máy bay chiến đấu, trang bị vũ khí và thiết bị điện tử cần thiết cho hoạt động chiến đấu và nhất là còn thiếu việc huấn luyện nhân sự cũng như khả năng yểm trợ từ tiếp vận. Hơn nữa, một hàng không mẫu hạm không thể hoạt động đơn lẻ mà phải ở trong một hải đội bao gồm các chiến hạm hộ tống và tàu tiếp tế.
Trung Quốc muốn mua máy bay Su-33 của Nga để trang bị cho mẫu hạm, nhưng chỉ đồng ý điều kiện mua một số ít trong khi Nga đòi hỏi phải mua toàn thể một phi đội vì hiểu rằng Trung Quốc sẽ sao chép kiểu mẫu để tự chế tạo. Thỏa thuận không đạt được và Trung Quốc cho biết sẽ dùng máy bay chiến đấu J-15 do xưởng Shenyang sản xuất, dựa theo mẫu từ một chiếc Su-33 chưa hoàn hảo đã mua lại được của Ukraine.
Trước sự quan tâm của Tây phương đối với chương trình bành trướng hải quân, Trung Quốc nói rằng mẫu hạm của họ chỉ nhằm sử dụng vào mục tiêu huấn luyện. Lời giải thích ấy có thể là đúng vì cho đến nay hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa có kiến thức nào về lãnh vực vũ khí này.
Vả lại, mẫu hạm Thi Lang, trọng tải 60,000 tấn, nguyên thủy theo quan niệm chế tạo của Liên Xô là một tuần dương hạm mang máy bay (aircraft-carrying cruiser) với sứ mạng chiến lược không hoàn toàn giống như tàu sân bay kiểu Mỹ (aircraft carrier). Thi Lang chỉ có thể trang bị khoảng 20 máy bay chiến đấu, đường cất cánh kiểu “ski jump” cong lên ở mũi tàu không có hệ thống máy phóng (catapult) nên máy bay không thể mang theo nhiều bom đạn nặng.
Ông Scott Cooper, một chuyên gia quân sự thuộc Bộ Quốc Phòng Úc, không tin rằng Trung Quốc có chương trình phát triển hàng không mẫu hạm như Hải Quân Hoa Kỳ, dù rằng họ có dự án tự đóng thêm ít nhất hai hàng không mẫu hạm khác. Theo ông, Trung Quốc chưa đủ khả năng chế tạo những siêu mẫu hạm nguyên tử thế hệ Nimitz như Hoa Kỳ đang sử dụng hiện nay và phải nhiều chục năm nữa hải quân Trung Quốc mới có thể sử dụng đủ hiệu quả những hệ thống vũ khí này. Ông cũng cho là Trung Quốc sẽ chưa có tham vọng cạnh tranh quyền bá chủ đại dương trong tương lai gần, và nếu phải đụng độ với Hải quân Hoa Kỳ, chỉ cần dùng tàu ngầm và hỏa tiễn.
Do đó, ông Cooper cho rằng hàng không mẫu hạm của Trung Quốc vào lúc này nhắm đến mục tiêu chính trị hơn là quân sự và là sự biểu dương đối với các nước láng giềng Châu Á. Ngay cả chiến tranh với Ðài Loan cũng không cần tới hàng không mẫu hạm vì máy bay đặt căn cứ ở lục địa có thể là đủ. Nhưng nếu xung đột trên biển Ðông ở Hoàng Sa hay Trường Sa thì máy bay từ mẫu hạm sẽ có thể hoạt động hiệu quả hơn vì tầm hoạt động quá xa, máy bay từ đất liền không thể yểm trợ chiến trận trong một thời gian dài được.
Tuy vậy, Hải Quân Trung Quốc sẽ không dễ dàng trong những xung đột trên biển Ðông. Nếu Philippines đến bây giờ chưa đủ lực lượng đương đầu với Trung Quốc dù là chỉ xung đột nhỏ trong thời gian ngắn thì từ 5 năm nay, tiềm lực quân sự của Việt Nam đã gia tăng rất nhiều. Tờ China Review News ở Trung Quốc nhận định rằng trong năm quốc gia Ðông Nam Á ở biển Ðông - Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei - thì lực lượng quân sự của Việt Nam, đặc biệt là hải quân, có khả năng công cũng như thủ toàn diện và mạnh nhất. Nga đã bán cho Việt Nam nhiều hệ thống vũ khí phòng thủ cũng như tấn công hiện đại, bao gồm chiến hạm gắn hỏa tiễn loại Gepard, Molnya, và sắp tới là tàu ngầm lớp Kilo. Tầm hoạt động của máy bay chiến đấu đặt căn cứ ở các sân bay Biên Hòa, Phan Rang, Cam Ranh... bao trùm biển Ðông, với Su-30MKV là loại máy bay chuyên dụng chiến đấu trên biển cũng như hỏa tiễn chống chiến hạm Yakhont từ bờ biển Phan Thiết có tầm bắn tới Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong những điều kiện ấy, Hải Quân Trung Quốc không sẵn sàng để có thể lấn chiếm một số đảo như ở Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Vả lại, Hải Quân Trung Quốc không có lực lượng thủy quân lục chiến và chiến hạm đổ bộ sẵn sàng. Các trang mạng chuyên về quân sự quốc tế cho biết Trung Quốc đang cố gắng phát triển loại tàu đổ bộ chạy trên đệm khí LCAC. Việc chiếm các đảo nhỏ và bãi đá ở Trường Sa không thể sử dụng loại tàu đổ bộ kiểu cổ điển dễ bị mắc cạn, nên cần đến tàu chạy trên đệm khí hoặc sử dụng trực thăng. Nhưng Trung Quốc hiểu rõ rủi ro khi đụng độ với Việt Nam, vì vậy những thái độ khiêu khích và gây hấn cho đến nay chưa hẳn là một dấu hiệu phát triển tới xung đột, trong khi về phía các nước Ðông Nam Á như Việt Nam và Philippines vẫn luôn luôn kềm chế phản ứng tránh hành động khơi mào cho chiến tranh.
Cuối cùng thì dù với hệ thống vũ khí nào và số lượng bao nhiêu, yếu tố căn bản vẫn là con người, sử dụng như thế nào và kết quả ra sao không ai có thể dự đoán chính xác. Có lẽ Trung Quốc cũng như các nước Ðông Nam Á ý thức được thực tế ấy, và xung đột không phải là giải pháp hiệu quả nhất để chắc chắn giải quyết dứt khoát các tranh chấp.
*****

Thách thức lớn nhất của Trung Quốc không phải là Mỹ mà chính là bản thân Trung Quốc


Anka Lee, The Diplomat, 2 tháng Chín 2012
Trần Ngọc Cư dịch  - Bauxite Việt Nam – 4-9-2012

Trung Quốc đang đối diện với những vấn đề kinh tế, dân số và xã hội cần phải giải quyết. Các vấn đề đối ngoại có thể bị đẩy lui ghế sau.
Tháng Hai năm nay, tại một tiệc khoản đãi ở bang Iowa để đón chào ông, Phó Chủ tịch nước Trung Quốc (TQ) Tập Cận Bình phát biểu những điều mà tờ Des Moines Register gọi là lời chúc mừng cảm động nhất đối với bang Mắt Ó [Dân Iowa còn được gọi là Hawkeyes (Mắt Ó), ND]. Tập Cận Bình, người một phần tư thế kỷ trước đây đã đến thăm Iowa trong tư cách là một quan chức địa phương, đã trở lại lần này, năm 2012, trong tư cách một lãnh đạo quốc gia muốn dân chúng toàn cầu biết đến ông nhiều hơn nữa. Trước sự hiện diện của các nhân sĩ Iowa, Tập Cận Bình đã chia sẻ những kỷ niệm thời thơ ấu khi đọc Mark Twain và nỗi say mê mà ông hằng ấp ủ đối với dòng sông Mississippi. Và vì thế ông rất sung sướng là, trong chuyến viếng thăm gần đây nhất, “vẻ đẹp có một không hai của Muscatine lúc mặt trời lặn” đã đón chào ông thêm một lần nữa. Con người đang tìm cách quyến rũ vùng trung châu nước Mỹ, tại Đại hội Đảng 18 ở Bắc Kinh vào tháng Mười này, sẽ chính thức trở thành Chủ tịch nước Trung Quốc.
Khi hình ảnh quốc tế của Trung Quốc tiếp tục đi lên, cùng với ý nghĩa kinh tế và chính trị của nó, người ta có thể kết luận rằng, dân chúng TQ có thể kỳ vọng Tập Cận Bình sẽ trở nên nổi bật hơn nữa trên sân khấu chính trị quốc tế. Là lãnh tụ của một cường quốc thế giới, Tập sẽ dành nhiều thì giờ hơn nữa cho các vấn đề quốc tế, cầm chịch các tranh luận về những vấn đề toàn cầu, tương tác thường xuyên với các cử tọa nước ngoài như các công dân của bang Iowa nói trên và có khả năng nói rõ vai trò của Trung Quốc như một cường quốc có ảnh hưởng to lớn trên các vấn đề thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể Tập sẽ rất bận rộn với việc phải đối phó một loạt thách đố kinh tế và xã hội mà Trung Quốc rất có thể gặp phải trong thập niên tới.
Là một lãnh tụ kế tiếp của Trung Quốc, một trong những quan tâm chính của Tập sẽ là cần phải quản lý những thách đố kinh tế đang bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt là, Tập sẽ phải lãnh đạo đất nước qua giai đoạn xáo trộn nhất của thời kỳ quá độ, dần dần chuyển đổi từ một nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu (export-oriented economy) sang một nền kinh tế đặt cơ sở nhiều hơn trên sức tiêu thụ nội địa. Trong 30 năm qua, đồng lương thấp và sự đông đảo của giai cấp công nhân trẻ và khỏe mạnh đã cống hiến cho khu vực sản xuất TQ một lợi thế tương đối vô cùng to lớn và giúp khu vực này bành trướng mạnh.
Nhưng, trong những năm gần đây, mô hình kinh tế Trung Quốc đã trở nên ngày càng có vấn đề. Khi giới tiêu thụ tại châu Âu, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, phải đương đầu với những thách thức kinh tế trong nước, đã giảm mức tiêu thụ, thì một nền kinh tế lấy xuất khẩu làm trọng tâm như Trung Quốc tỏ ra thiếu bền vững, với nhiều loại hàng hóa sản xuất ra mà không bán được – mọi thứ từ đồ chơi trẻ em đến xe hơi – được báo cáo là đang chất đống trên sàn nhà công xưởng hay các phòng trưng bày khắp cả nước. Lương công nhân TQ, có thời là lợi thế lớn nhất của nước này, đã liên tục tăng lên trong nhiều năm qua, khiến một số chuyên gia, như Tổ hợp Tư vấn Boston, tiên đoán rằng sẽ có một “cuộc phục hưng cho ngành sản xuất” tại Mỹ. Trong khi đó, nếu tình trạng này cứ tiếp tục đi xuống và nạn thất nghiệp tiếp tục gia tăng khắp Trung Quốc, chính phủ sẽ đặc biệt lo lắng về bất ổn xã hội, như từng xảy ra trong những giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2008.
Trong trung hạn, những thách thức kinh tế của Trung Quốc sẽ gia tăng nhiều hơn nữa do các xu thế dân số ảm đạm của nước này. Theo tường trình của tờ Economist, những số liệu gần đây nhất cho biết rằng tỉ lệ tăng trưởng dân số trung bình là 0,57% một năm trong thập niên đầu của thế kỷ 21, giảm xuống từ tỉ lệ tăng trưởng dân số 1.07% một năm mà Trung Quốc đã giữ được trong thập niên 1990. Do đó, dân số Trung Quốc đang ngày một già nua. Người ta có thể gán những thách thức dân số của Trung Quốc cho chính sách một con của Bắc Kinh, hay cho sự kiện khi một đất nước hiện đại hóa và trở nên giàu có hơn thì người dân sẽ sống lâu hơn và sinh ít con hơn. Dù vì nguyên nhân gì đi nữa, khi Trung Quốc già đi trước khi trở nên giàu có thì chính phủ cũng sẽ phải tìm cách để chi trả cho một mạng lưới an sinh xã hội tốt hơn hiện nay và các nhu cầu chồng chất khác mà một dân số đang trở nên già nua thường đặt ra cho một chính phủ.
Trong khi Tập Cận Bình, cùng với nhóm lãnh đạo mới của Trung Quốc, phải ra sức làm việc xuyên qua các thách đố này và dần dần cải tổ hệ thống kinh tế quốc gia nhằm đáp ứng hữu hiệu hơn các biến chuyển xã hội, kinh tế, chính trị, và dân số trong nước cũng như ở nước ngoài, họ sẽ phải đối phó với một dân chúng đang trở nên quyết đoán hơn trong việc đòi hỏi và bảo vệ những quyền lợi của mình sau 30 năm kinh qua các tiến trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, khắc nghiệt, và thường là bất bình đẳng. Mặc dù họ không đòi hỏi thay đổi chế độ, nhưng chắc chắn họ đang đòi hỏi chính phủ hiện tại phải đáp ứng những nhu cầu của họ nhiều hơn nữa.
Nói tóm lại, nước Trung Quốc mà Tập Cận Bình và ban lãnh đạo sắp tới sẽ thừa hưởng là một nước đang ở giữa một thời kỳ quá độ tế nhị. Hệ thống kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo mà các lãnh đạo Trung Quốc trước đây dựa vào trong nhiều thập niên đã mang lại vô số lợi lộc cho đất nước. Nhưng trong tiến trình phát triển, mô hình kinh tế này cũng gây căng thẳng cho xã hội TQ trong nhiều phương diện đáng kể, mà hậu quả đến nay mới bắt đầu xuất hiện. Sự gia tăng sức ép trong nước, cùng với sự kiện các nền kinh tế phát triển không còn đủ sức nâng đỡ nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu của Trung Quốc, ngụ ý rằng những nỗ lực tái quân bình – ở trong nước và, theo tiến trình, ở nước ngoài – nhất định phải diễn ra.
Cuộc thảo luận về ý nghĩa của các nỗ lực nhằm đối phó những thách thức nội bộ này đã diễn ra công khai tại Trung Quốc. Giáo sư Cui Liru, người điều khiển các Viện Nghiên cứu Trung Quốc cuả chính phủ về các Quan hệ Quốc tế đương đại, đã nhìn nhận trong một bài tiểu luận gần đây rằng nhiệm vụ sắp tới của Bắc Kinh là rất quan trọng và sẽ đòi hỏi những “nỗ lực gian khổ” (jianku nuli) của cả chính phủ lẫn người dân. Việc chính phủ TQ chuyển trọng tâm qua việc thiết lập một mạng lưới an sinh xã hội và cải thiện đời sống của người dân, theo Cui, sẽ là những ví dụ cụ thể chứng tỏ rằng những hứa hẹn về “công bằng xã hội, công lý, phồn vinh, và hài hòa” vẫn còn được giữ. Cui nói thêm, chúng sẽ là nền tảng pháp lý mà trên đó sự cai trị lâu dài của Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt cơ sở.
Như tôi đã tranh luận trước đây, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ phải thực tiển đánh giá những thách thức nội bộ của Trung Quốc nếu họ muốn tìm hiểu những ý đồ và những nỗi bất an của Bắc Kinh, những tác động do chính sách của nó lên kinh tế toàn cầu, những mối quan hệ của nó với Washington, và, sau cùng, nó thuộc về loại quyền lực nào trong hệ thống quốc tế hiện nay. Vì điều quan trọng nhất không phải là khả năng của Tập Cận Bình trong việc trình diễn bản thân và đất nước mình với thế giới bên ngoài – dù điều này rõ ràng quan trọng – nhưng là ông sẽ thành công như thế nào trong việc lãnh đạo Trung Quốc đi qua một thập kỷ gồm những chuyển đổi đau đớn nhưng cần thiết. Trong khía cạnh này, dù sao đi nữa, có lẽ mọi quốc gia cũng không khác nhau gì mấy: như một nhà chính trị Mỹ nổi tiếng từng nói, rằng: “tất cả mọi thứ chính trị đều có tính địa phương”.
Anka Lee là một Nhà phân tích An ninh châu Á tại Tập đoàn CNA. Các bình luận của ông đã được đăng trong tạp chí Time và phát biểu trên NBC News.
Nguồn: thediplomat.com

*****

Chủ nghĩa dân tộc vị kỷ của Trung Quốc


Robert Sutter, The Diplomat, 31 tháng Tám 2012

Trần Ngọc Cư dịch – Bauxite Việt Nam - 06/09/2012


Sau khỉ Liên Xô và các nước Xô viết chư hầu tại Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã nhanh chóng ý thức rằng TQ không thể tiếp tục ôm khư khư chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tồn tại được. Về mặt kinh tế, TQ đã ranh mãnh tìm cách phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, và về mặt ý thức hệ, TQ bắt đầu cổ vũ một chủ nghĩa dân tộc cực đoan mang màu sắc Đại Hán. Chủ nghĩa dân tộc đó được xây dựng trên hai tiền đề cơ bản như là liều thuốc “kích dục” cho nó: một là, Trung Quốc từng bị các cường quốc khác bắt nạt, phải chịu đựng quan hê bất bình đẳng trong một thời gian dài; hai là, chính sách ngoại giao của Trung Quốc hiện tại là rất hợp với đạo lý và có chính nghĩa. Mặc dù đang gặp vô số chống đối của dân chúng trên các vấn đề áp bức dân tộc thiểu số, nhân quyền, môi trường, tham nhũng nghiêm trọng và phân hóa giàu nghèo chồng chất dẫn đến bất công xã hội tràn lan, nhưng Đảng và Nhà nước Trung Quốc cũng đã gặt hái được những thành công ngoạn mục trong việc xây dựng một chủ nghĩa dân tộc TQ ích kỷ và được sự hưởng ứng của một phân số trong giới tinh hoa cũng như một bộ phận dân chúng ít am hiểu tình hình thời sự quốc tế. Đấy là chứng cớ để nhiều học giả trên thế giới cho rằng, dù Việt Nam rập khuôn Trung Quốc về nhiều phương diện, nhưng trên phương diện này Việt Nam có khấc với mô hình TQ.
Bauxite Việt Nam

Bắc Kinh từ lâu đã đan kết hai sợi chỉ có nội dung là, Trung Quốc (TQ) từng bị các cường quốc bắt nạt (victimization) và TQ tự cho mình nắm chính nghĩa trong tay (self-righteousness), để tạo nên chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc. Điều này khiến cho việc tương nhượng (compromise) trong quan hệ ngoại giao trở nên khó khăn hơn.
Những cuộc biểu tình của dân chúng vào giữa tháng Tám tại các thành phố TQ cùng với những bình luận chống Nhật Bản trên báo đài và Internet liên quan đến các đảo đang tranh chấp trong Biển Đông Trung Hoa đã gây sức ép đòi hỏi các quan chức TQ phải cứng rắn trong việc bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền TQ và chống lại “các hành động xâm lấn” của Nhật Bản. Những cuộc biểu tình này đã diễn ra tiếp theo sau các lời kêu gọi của những nhà bình luận nổi tiếng và các nhóm cử tri khác đòi hỏi Bắc Kinh phải đi theo một đường lối cứng rắn hơn trong các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam). Bắc Kinh trong trường hợp đó đã sử dụng những biện pháp khác thường bao gồm việc sử dụng liên tục các lực lượng an ninh, trừng phạt kinh tế, các dự án kinh doanh thủy sản và dầu lửa, các sắc lệnh hành chánh, các cảnh báo ngọai giao, và các phương tiện đe dọa khác mà không cần dùng sức mạnh quân sự trong những nỗ lực cho đến nay đã thành công trong việc khuất phục các nước Đông Nam Á có đòi hỏi chủ quyền và ngăn cản không cho ASEAN đi đến một lập trường thống nhất để đối phó với quyền lực của Trung Quốc.
Các nhà bình luận nước ngoài đã nói đúng khi cho rằng động lực thúc đẩy dân chúng và giới tinh anh tạo sức ép đòi hỏi Chính phủ Trung Quốc phải có một đường lối cứng rắn hơn nữa trên các vấn đề lãnh thổ phần lớn phát xuất từ loại chủ nghĩa dân tộc đã được nhà cầm quyền TQ cổ vũ mạnh mẽ kể từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt và chủ nghĩa cộng sản quốc tế sụp đổ. Chủ đề dân tộc chủ nghĩa TQ nhấn mạnh rằng kể từ Thế kỷ XIX đến nay Trung Quốc đã bị đối xử bất công, lãnh thổ và quyền chủ quyền liên hệ của TQ đã bị các cường quốc khác xâu xé; Trung Quốc vẫn còn ở trong một tiến trình lâu dài trong nỗ lực xây dựng quyền lực đủ mạnh để bảo vệ lãnh thổ mà TQ kiểm soát và giành lại lãnh thổ đang bị tranh chấp và chủ quyền của mình. Nói chung, cuộc vận động tư duy dân tộc chủ nghĩa này đã tạo ra ý thức “một quốc gia bị bắt nạt” (victimization) trong dân chúng và trong giới tinh anh TQ, những người được coi là có ảnh hưởng ngày càng lớn trên việc hoạch định quyết sách đối ngọai của Trung Quốc trong một thời đại mà chính trị thủ lĩnh (strong-man politics) kiểu Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đã nhường bước cho một Ban lãnh đạo tập thể (a collective leadership) biết lắng nghe quan điểm của giới tinh anh nằm ngoài chính quyền và của dân chúng.
Việc tạo hình ảnh trong vấn đề đối ngoại
Đáng tiếc là, việc nhấn mạnh cảm thức của một nước từng bị bắt nạt trong quá khứ và cả trong hiện tại chỉ là một phần của chủ nghĩa dân tộc ích kỷ (self-absorbed nationalism) mà nhà cầm quyền TQ đã và đang nuôi dưỡng. Cũng quan trọng không kém là những nỗ lực rộng lớn để xây dựng hình ảnh một Trung Quốc đóng vai có đạo lý trên sân khấu thế giới, tương phản với các cường quốc thế giới khác bị coi là chỉ biết theo đuổi những lợi ích quốc gia ích kỷ. Những nỗ lực này đã được thể hiện bởi Bộ Ngoại giao, bởi nhiều tổ chức chính phủ, đảng và quân đội có liên quan đến các vấn đề đối ngoại, bởi những tổ chức bề ngoài có vẻ phi chính phủ nhưng thân cận với Chính phủ TQ và bởi bộ máy quảng bá/tuyên truyền đồ sộ của chính quyền TQ. Những nỗ lực này đã tăng cường địa vị quốc tế của Trung Quốc đồng thời điều kiện hóa người dân tại Trung Quốc để họ suy nghĩ tích cực về những quan hệ đối ngoại của TQ.
Như vậy, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, chẳng hạn, được rêu rao là có nguyên tắc trong việc xử lý các vấn đề đối ngoại, đảm bảo các lập trường có đạo lý trong quan hệ đối ngoại của TQ; những lập trường có nguyên tắc và đạo lý sẽ tạo cơ sở cho những chiến lược hữu hiệu của TQ trong các vấn đề thế giới. Rõ ràng là, những chiến lược này được coi là để đảm bảo rằng Trung Quốc không sai lầm trong vấn đề đối ngoại, một lập trường có tính biệt lệ được tô đậm thêm bởi hình ảnh một Trung Quốc luôn luôn tránh công khai nhìn nhận các sai lầm về chính sách đối ngoại hoặc lên tiếng xin lỗi về hành động của mình trong các vấn đề thế giới. Hẳn nhiên, một số viên chức ngoại giao và chuyên gia chính sách đối ngoại TQ hiểu biết nhiều hơn và có thể riêng tư bày tỏ ý kiến bất đồng với mẫu hình cực kỳ đạo lý của TQ trong chính sách đối ngoại, nhưng họ không dám đi ra ngoài tư duy chính thống đã được dư luận rộng rãi của giới tinh anh và quần chúng chấp nhận. Bất cứ chỉ trích nào mà giới tinh anh và quần chúng dùng để đả kích chính sách đối ngoại của Trung Quốc đều có xu thế tập trung vào một lý do là Trung Quốc đã quá rụt rè và không đủ mạnh dạn trong việc đương đầu với những xúc phạm từ nước ngoài.
Ngày nay, những nỗ lực xây dựng hình ảnh [đẹp đẽ] của Trung Quốc đang hậu thuẫn cho một vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trong các vấn đề châu Á và thế giới, một vai trò nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân TQ và các giới cử tri khác nhau tại Trung Quốc. Những nỗ lực này cũng báo hiệu một cách lạc quan rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi những chính sách tốt lành đặt cơ sở trên những chủ đề được chính quyền TQ nhấn mạnh gần đây. Những chủ đề này gồm có: cổ vũ hoà bình và phát triển ở nước ngoài, tránh thái độ khống chế hoặc bá quyền với các nước láng giềng hay với các nước khác khi quyền lực của Trung Quốc gia tăng, và noi gương các vương triều trong lịch sử Trung Quốc là không theo đuổi chủ nghĩa bành trướng.
Hy sinh sự thật
Việc xây dựng một hình ảnh như thế trong cuộc vận động tư duy dân tộc chủ nghĩa liên quan đến các quan hệ đối ngoại hiện đại của TQ là đi ra ngoài sự thật quá xa so với sự kiện Trung Quốc bị các cường quốc bắt nạt được mô tả trong cuộc vận động này của TQ. Sự kiện Trung Quốc từng bị nhiều cường quốc o ép trong phần lớn các Thế kỷ XIX và XX là có thật. Trái lại, bằng chứng về một đường lối có đạo lý, có nguyên tắc, và tốt lành là biệt lệ chứ không phải quy luật phổ quát trong các hình thái dích dắc (zigzags) của những quan hệ đối ngoại thường là mang tính bạo lực của TQ trong phần lớn 60 năm qua. Đặc biệt, đây là trường hợp đã diễn ra trong vùng chung quanh Trung Quốc tại châu Á, khu vực đã và đang là vùng ảnh hưởng lớn nhất của TQ và là vùng nhận sự quan tâm đối ngoại lớn nhất của TQ. Hầu hết các nước láng giềng của Trung Quốc đều đã phải kinh qua các hành động xâm lấn hoặc xâm lược của các lực lượng an ninh TQ; các nước này và các nước xa hơn nữa đã từng chiến đấu chống lại các đội quân nổi dậy hay các lực lượng ủy nhiệm có vũ trang (armed proxies) hoàn toàn được Trung Quốc yểm trợ và nhắm vào các nước nói trên. Chủ trương bạo động và những hành động cực đoan này vẫn còn tiếp tục diễn ra sau triều đại “cách mạng” của Mao. Hậu thuẫn mạnh mẽ của Trung Quốc dành cho tập đoàn Khmer Đỏ cực đoan đã gia tăng vào những năm cuối của chế độ Mao và vẫn còn duy trì ở mức cao suốt triều đại Đặng Tiểu Bình. Trong giai đoạn bạo động đó, các lãnh đạo TQ vẫn tuyên bố hậu thuẫn cho các nguyên tắc và đạo lý trong vấn đề đối ngoại, nhưng theo quan điểm của các dân tộc láng giềng và các chuyên gia nước ngoài, những nguyên tắc này thay đổi không ngừng và khoảng cách giữa nguyên tắc và thực hành thường là quá xa.
Trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã cố gắng nhưng không có kết quả đáng kể trong việc trấn an các lãnh đạo láng giềng vì họ nhớ quá kỹ những lề thói bạo lực và đe dọa của Trung Quốc trong quá khứ. Hành vi thô bạo gần đây của Trung Quốc trong Biẻn Đông Việt Nam và trong Biển Đông Trung Hoa đã nhắc nhở những nỗ lực hù dọa và o ép của TQ trong quá khứ. Một phần vấn đề trong các nỗ lực trấn an thế giới của Trung Quốc là, dư luận của giới tinh anh và người dân TQ gần như chứng tỏ rằng họ không hề hay biết gì về chủ trương bạo lực và những hành động cực đoan của TQ trong quá khứ, và vì thế họ không hiểu được những lý do đằng sau thái độ ngờ vực và cảnh giác của nhiều chính phủ láng giềng, và của cường quốc quan trọng từ bên ngoài ở trong khu vực, tức Hoa Kỳ, đối với Trung Quốc. Liên quan đến Hoa Kỳ, một lề thói khác được nhìn thấy suốt lịch sử ngoại giao TQ và được hỗ trợ mạnh mẽ bởi cuộc vận động tư duy dân tộc chủ nghĩa tại Trung Quốc là phải biểu lộ sự chống đối ồn ào nhất đối với những nỗ lực của các cường quốc bên ngoài nhằm thiết lập và duy trì những vị trí để củng cố ảnh hưởng và sức mạnh chung quanh Trung Quốc. Những động thái này, không những do Mỹ mà còn do Liên Xô trong quá khứ và do Nhật Bản và Ấn Độ cho đến ngày nay, bị nhà cầm quyền Trung Quốc cũng như dư luận hậu thuẫn của giới tinh anh và quần chúng liên tục tố cáo bằng những từ ngữ phóng đại trắng trợn là một mối đe doạ đối với Trung Quốc, gồm cả việc làm sống lại chính sách bao vây ngăn chặn của thời Chiến tranh lạnh và các âm mưu khác.
Những ẩn ý
Dư luận của giới tinh anh và của quần chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của cuộc vận động tư duy dân tộc chủ nghĩa nhấn mạnh sự kiện Trung Quốc bị dọa nạt bởi các cường quốc khác. Cũng nghiêm trọng không kém là, cuộc vận động tư duy dân tộc chủ nghĩa TQ còn củng cố một ý thức độc đáo, mạnh mẽ về đạo lý và chính nghĩa trong các vấn đề đối ngoại của Trung Quốc. Do đó, dư luận TQ chỉ thấy bất cứ vấn đề gì mà Trung Quốc gặp phải với các nước láng giềng và với các cường quốc liên quan gồm cả Mỹ về các vấn đề chủ quyền và an ninh nhạy cảm là do các nước ấy gây ra chứ không phải do Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc thiếu kiên nhẫn đối với các lời phản đối của những nước có đòi hỏi chủ quyền khác và đối với các lời kêu gọi đòi Trung Quốc phải nhượng bộ trên những vấn đề nhạy cảm liên quan đến chủ quyền và an ninh tại khu vực châu Á gần kề Trung Quốc. Do đó, dư luận của giới tinh anh và quần chúng TQ đòi hỏi những chính sách cứng rắn hơn để bảo vệ các lợi ích của TQ trong Biển Đông Việt Nam và Biển Đông Trung Hoa. Nỗ lực xây dựng hình ảnh TQ đã thành công trong việc điều kiện hóa dư luận TQ, và sự kiện này chỉ làm gia tăng khó khăn trong việc quản lý các căng thẳng trên các biển gần Trung Quốc và làm cho việc giải quyết các vấn đề này khó thực hiện trong một tương lai có thể trông thấy.
Robert Sutter là Giáo sư về Thông lệ Bang giao Quốc tế tại Trường Bang giao Quốc tế Elliott thuộc Viện Đại học George Washington tại Washington, DC. Bài viết này được xuất bản lần đầu bởi Bản tin hàng tuần Pacific Forum CSIS Pacnet ở trang mạng này và chỉ tiêu biểu cho quan điểm của từng tác giả.
*****

“Quốc gia ngu ngốc và lạc hậu”: Lời lẽ châm biếm tự nhắm vào mình khi Trung Quốc phê phán Hoa Kỳ.


David Wertime
Bauxite Việt Nam - 13/09/2012

“Hoa kỳ thực ra chỉ là một làng quê khổng lồ và kém phát triển” – một tiểu luận ẩn danh trên trang web hóa ra lại khơi mào cho sự châm biếm nhằm chính Trung Quốc.
. CHINA/
Cờ của Trung Quốc và Mỹ trong cuộc gặp ngoại giao tại Bắc Kinh (Reuter)
Trước chuyến thăm ngoại giao của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton tới “Vương Quốc ở trung tâm thế giới” một luận điệu phê phán đầy mỉa mai đã lan tỏa như virut trên Sina Weibo, một mạng xã hội của Trung Quốc, với hơn 44 ngàn lượt chia sẻ và 5,400 lời bình trên Twitter. Luận điệu này không rõ nguồn gốc và tác giả đã phê phán một cách bỡn cợt nước Mỹ như một quốc gia ngu ngốc, thô sơ và ấu trĩ. Tưởng rằng có thể làm các độc giả Mỹ bị xúc phạm, nhưng chẳng bao lâu sau khi được ra mắt, bài viết đó thực sự đã trở thành một sự phê phán sắc sảo và có tác dụng ngược lại đối với Trung Quốc.
Tờ Tea Leaf Nation đã dịch những phần lý thú và rôm rả nhất (chúng thường có mặt trong đa số các bài luận) và xin mời các độc giả thưởng thức.
Đừng đi Mỹ, một quốc gia ngu ngốc và lạc hậu
Tôi từng ở Mỹ một thời gian dài và giờ đây thì thấy hối hận vì sự lựa chọn này. Chúng ta đã bị mụ mẫm bởi truyền thông phương Tây luôn luôn làm cho ta nghĩ rằng Hoa Kỳ là một đất nước hiện đại. Nuôi hy vọng học tập khoa học tân kỳ của Mỹ để về phục vụ quê hương, tôi đã bằng mọi nỗ lực để theo đuổi “siêu cường” đó, thế nhưng kết quả lại thật đáng thất vọng!
(1) Hoa Kỳ thực ra chỉ là một cái làng nông nghiệp khổng lồ kém phát triển. Ở trường trung học các thầy giáo vẫn dạy rằng công nghiệp càng phát triển thì môi trường lại càng bị xâm hại. Ví dụ như trong một thành phố công nghiệp bạn phải thấy ống khói khắp nơi, các xí nghiệp to khắp nơi và bụi cũng khắp nơi. Đó mới là biểu tượng của công nghiệp hóa! Thế còn Hoa Kỳ thì sao? Đố bạn tìm ra các ống khói, thảng hoặc mới thấy một vài cái nho nhỏ nhưng lại là thứ để trang điểm cho nhà dân. Thay vào đó là những dòng sông và hồ nước sạch khắp nơi nơi và chẳng có các nhà máy giấy và luyện thép nơi bờ sông. Không khí trong lành và sạch là biểu tượng của một xã hội thô sơ và đó không thể là dấu tích của công nghiệp hóa !
(2) Người Mỹ chẳng hiểu gì về kinh tế. Các tuyến đường cao tốc tỏa đi mọi phương, có lẽ là đến mọi làng xóm, tuy nhiên khó tìm ra nổi một trạm thu phí! Thật là một sự phung phí khủng khiếp cơ hội kinh doanh! Khó có thể cưỡng nổi ý định của bản thân là xúc một ít xi măng để xây vài trạm thu phí và chắc chắn là chỉ trong vòng một tháng tôi sẽ có đủ tiền để mua một căn nhà trông ra Đại Tây Dương. Ngoài ra, bên lề đường cao tốc bạn có thể thấy những mặt hồ tĩnh lặng còn hoang dã. Chính quyền để mặc cho lũ chim cư ngụ và vẫy vùng thỏa sức mà không nghĩ tới việc thiết lập vườn cảnh quan trông ra hồ để kiếm bộn tiền. Rõ là người Mỹ không có cái đầu làm kinh tế.
(3) Ngành xây dựng Hoa Kỳ quả là quá thô sơ. Ngoài một số lượng nhỏ các thành phố lớn (mà bạn đã biết) thì không có những tòa tháp bê tông và gạch chọc trời … Tôi sợ rằng hình như Mỹ không có các tòa nhà bằng gạch. Hầu hết nhà cửa làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu lạ khác. Sử dụng gỗ thô sơ để xây nhà thì dường như những kiến trúc ngoại bang này còn chưa qua thời phong kiến trước khi có nhà Thanh!
(4) Lối tư duy của người Mỹ ngây ngô và lạc hậu. Khi mới tới Mỹ tôi thuê một cái xe kéo chở hành lý giá 3 đôla, nhưng lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ thấy tôi có nhiều đồ nên đã trả 3 đồng đó và thuê xe cho tôi. Người Mỹ thường cởi mở và hỏi xem tôi có cần giúp đỡ gì không. Ở nước tôi, đã qua thời của Lôi Phong vào những năm 50 và 60 thế kỷ trước cho nên bây giờ thì cái lối cư xử đó quả là quá lạc hậu! (Lôi Phong là thanh niên thời phong trào thi đua cộng sản Mao, người từng được nêu gương sáng về đạo đức hy sinh bản thân). Trở lại thời kỳ đó, con người ta rất đạo đức giả, nhưng bây giờ thì chúng ta không theo lối mòn đó nữa. Chúng ta tiến hành mọi việc giờ đây một cách trần trụi và đó mới là hiện đại hóa! Bởi vậy lối tư duy của Mỹ lạc hậu hơn chúng ta vài thập kỷ và không có dấu hiệu nào cho thấy rằng họ có khả năng đuổi kịp chúng ta.
(5) Người Mỹ không biết ăn thịt thú rừng. Có một đêm tôi lái xe đi cùng một bạn học đến thành phố khác và bất thình lình mấy con nai Sika (một giống nai đốm có nguồn gốc từ Nhật Bản – ND) nhảy xổ ra. Anh bạn cùng lớp lập tức phanh gấp và đổi hướng để tránh tai nạn. Hình như là trường hợp kiểu này thường xảy ra khi mà sự va chạm với một con nai cũng đủ để làm vỡ tan chiếc ô tô. Chính phủ Mỹ không biết quản lý chuyện này như thế nào … Và người Mỹ quả thực không biết ăn thịt thú rừng, họ cũng không có cả quán ăn chuyên thịt thú rừng, rất ít khẩu vị đối với thú rừng thơm ngon bị giết thịt như hươu, nai và kém hứng thú bán sừng hươu nai để kiếm những khoản tiền lớn! Người Mỹ sống cùng động vật hoang dã hàng ngày và còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Đó quả thật là một xã hội sơ khai.
(6) Người Mỹ không biết tự trọng. Các giáo sư ở trường đại học Mỹ không có bộ dạng hoành tráng (架子); họ không hề có cái phong thái của những giáo sư đạo mạo. Nghe nói rằng vị giáo sư D… là một giáo sư về tâm lý học nổi tiếng, thế nhưng trong giờ giải lao thì ông ta lại ăn bánh quy trong phòng làm việc với các sinh viên của mình, bàn luận về bộ phim “21” và nữ nghệ sĩ Trung Quốc Trương Tử Di (Ziyi Zhang). Ông ta không hề có cái vẻ đường bệ của một nhà khoa học, cho nên tôi thực sự cảm thấy thất vọng. Ngoài ra, các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ chẳng bao giờ đưa học vị “PhD” lên danh thiếp của họ và họ không biết cách thể hiện ra ngoài vị thế của mình. Những người được đào tạo bởi các giáo sư kiểu như vậy sẽ chẳng thể nào biết cách đi đứng, nói năng nếu như họ trở thành những quan chức chính phủ… Có vẻ như các công chức Trung Quốc còn biết cách thu hút sự kính trọng của người dân; ngay cả một vị thủ trưởng một văn phòng không mấy quan trọng ở nước tôi còn tỏ ra đường bệ hơn cả Tổng thống Hoa Kỳ. Không có gì phải ngạc nhiên khi người ta nói công dân hạng nhất ở Trung Quốc chỉ xứng với công dân hạng ba ở Mỹ.
(7) Học sinh tiểu học Hoa Kỳ không có những hoài bão cao cả.Ngay từ thuở ban đầu các học sinh tiểu học không hề có ý định để trở thành quan chức … Chẳng hề có lớp học của các Tổng thống, các Bí thư tương lai hoặc các Ủy viên hội đồng mà tôi từng tham dự khi còn nhỏ. Sau giờ học thường là không có bài tập về nhà và bạn không có cách nào ngay cả việc nhắc tới chuyện đó khi liên hệ tới bài tập về nhà của học sinh tiểu học Trung Quốc. Trường học (Mỹ - ND) quan tâm quá nhiều đến dạy dỗ đạo đức cho trẻ em, làm cho những đứa nhỏ hướng tới để trước tiên là trở thành những công dân đủ tư cách thực thụ, sau đó mới là tiếp thu những lý tưởng có ý nghĩa dài lâu. Trở thành người công dân đủ tư cách ư? Quả là một quan niệm cổ lỗ sĩ.
(8) Người Mỹ hay làm ầm ĩ mỗi khi phát hiện ra một bệnh tật nho nhỏ. Đầu tiên là họ hẹn gặp bác sĩ, sau đó bác sĩ kê đơn. Một số người lại còn phải theo lời khuyên của một dược sĩ có bằng cấp nữa. Khi mua thuốc họ lại phải tự mình tới hiệu thuốc để lấy chúng mà mọi việc diễn ra không chóng vánh như ở Trung Quốc … Tôi không hiểu tại sao lại phải tách bạch riêng việc khám bệnh với việc mua thuốc … thay vì tách riêng lợi nhuận khỏi trách nhiệm. Rõ ràng là các bệnh viện Hoa Kỳ không có khái niệm về phương pháp kiếm tiền! Sao không nói cho bệnh nhân tên thuốc luôn đi? … Như thế họ sẽ độc quyền việc bán thuốc và tăng giá thuốc lên 8 hay 10 lần. Có biết bao nhiêu cơ hội kinh doanh tốt mà họ không biết tận dụng. Rõ ràng là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là thứ đã chết rồi.
(9) Ý kiến công chúng Mỹ là thứ dở hơi. Nhiều lúc tôi đã mất kiên nhẫn vì sự ngu dốt và xuẩn ngốc của họ. Chẳng hạn như khi họ biết là Trung Quốc có các đài truyền hình và báo chí thì họ đã hỏi tôi một cách ngu dốt rằng: “Trung Quốc cũng có báo chí cơ à?!”. Đó quả thực là một sự sỉ nhục; chúng ta không chỉ có các tờ báo bằng tiếng Trung được Bộ Tuyên truyền cho phát hành một cách tỷ mỉ, kỹ lưỡng; khi nhìn vào các tờ báo của chúng ta cũng chẳng khác gì nghe quốc ca, không hề giống với các tờ báo của Hoa Kỳ chứa một mớ lộn xộn ý kiến quần chúng, thậm chí dám lăng mạ đích danh Tổng thống.. (ở Trung Quốc) chúng tôi không bao giờ đăng tin các vụ sì –căng- đan liên quan tới các lãnh đạo; bởi vì sau đó ai sẽ còn muốn làm lãnh đạo nữa ?...
(10) Người Mỹ về phương diện tinh thần là trống rỗng. Điều mà tôi không thể chịu nổi đó là: đa số người Mỹ nói câu cảm tạ trước mỗi bữa ăn và họ nguyện cầu một cách ngây thơ “Chúa phù hộ cho nước Mỹ”. Thật là buồn cười; nếu như Chúa phù hộ cho nước Mỹ thì tại sao nước Mỹ lại bị lạc hậu, thô sơ và đơn giản đến như vậy? Cầu Chúa Trời phỏng có ích lợi gì không? Thực tế hơn là nên dành thời gian cầu nguyện đó mà đi lễ thủ trưởng của bạn! Đó mới là cái cách thời thượng…
(11) Người Mỹ không có khái niệm thời gian. Với bất kể thứ gì, họ đều đứng vào hàng để chờ đợi … Người Trung Quốc chúng ta thông minh hơn, các bạn hẳn đã thấy đấy. Không quan trọng đám đông như thế nào,chúng ta vẫn có kỹ năng chen vào đâu đấy, và điều đó giúp cắt giảm khối thời gian mà lại tránh mệt mỏi do phải đứng chồn chân! Nếu ai đó biết cách đi cổng sau thì còn tiết kiệm nhiều thời gian hơn nữa. Những người Mỹ cổ hủ hoàn toàn không biết làm điều này.
(12) Cửa hàng ở Mỹ thật vô nghĩa: bạn vẫn có thể trả lại hàng sau khi mua vài tuần mà không có lý do gì. Sao lại có thể trả lại hàng hóa cơ chứ khi mà không cần thuyết phục tôi dù chỉ trong chốc lát? ...
(13) Nước Mỹ không an toàn, 95% nhà dân quên lắp đặt lưới, cửa ra vào, cửa sổ chống trộm; điều kỳ lạ nữa là tất cả lũ trộm cắp móc túi đi đâu mất tiêu rồi?
(14) Người Mỹ vốn nhút nhát và yếu đuối. 95% lái xe đều không dám vượt đèn đỏ … mặc dù 99% người lớn ở Hoa Kỳ đều sở hữu xe ô tô và phương pháp lái xe của họ thì rất lạ: có bao nhiêu là xe trên đường thế nhưng bạn không thể nghe thấy một tiếng còi xe, phố xá thật im lìm tĩnh lặng như thể không phải là phố nữa. Không thấy sự năng động ồn ào của một thành phố thủ phủ cấp tỉnh ở Trung Quốc.
(15) Người Mỹ thiếu xúc cảm. 95% nhân viên không nghĩ về việc phải làm gì cho tiệc cưới của cấp trên cho nên họ chẳng bao giờ tìm cớ để quan tâm, chăm sóc lãnh đạo của mình; ở Trung Quốc liệu có chuyện quần chúng bỏ qua cơ hội chăm sóc thủ trưởng của mình không? Nói theo cách khác, ai ở Trung Quốc lại dám làm điều này? Hãy nhìn xem chúng tôi có bao nhiêu là tình cảm.
(16) Người Mỹ không nhạy cảm. 99% dân Mỹ đi học rồi kiếm việc làm, thăng tiến và hoạt động mà không biết về sự cần thiết phải đưa “hồng bao” (phong bì chứa đầy tiền mặt) để đi lối sau…
clip_image002
(17) Hãy nhìn vào bức hình ở trên, điều này là đủ lý do để chúng ta coi thường nước Mỹ! Trong khi đang săn đuổi Bin Laden thì Obama và các thuộc cấp của ông ta đang chăm chú vào màn hình truyền hình ảnh trực tiếp do vệ tinh đưa về trong phòng Tình huống của Nhà Trắng. Cảm tưởng của tôi là:
·         Các thuộc cấp Hoa Kỳ không tôn trọng lãnh đạo của họ một cách đúng mức và thậm chi còn dồn ép vị Tổng thống đáng trân trọng của họ phải nép mình ngồi trong góc nhà. Obama đáng thương, thật không bằng cả anh trưởng thôn của Thiên triều Trung Hoa ( 天朝).
·         Căn phòng Tình huống của Nhà trắng đúng là một thứ huênh hoang khoác lác. Nó vừa bé lại không được trang trí nội thất khác thường, đúng là không tương xứng với phong cách của một cường quốc. Một căn phòng cơ quan cấp thị trấn của Thiên triều ( Trung Quốc- ND) có lẽ còn to hơn, sang trọng hơn rất nhiều.
·         Không có các đĩa hoa quả hoặc nước giải khát, không có … thuốc lá đắt tiền … và đó mà lại là nền kinh tế số 1 thế giới ư, ha, ha!
Phạm Gia Minh dịch từ Tea Leaf Nation một trang mạng liên kết đối tác của tờ Atlantic (Thăng long – Hà nội 12/09/2012)
*****
Petrotimes – 25-12-2012
Có mặt ở hầu hết định chế quốc tế như một “cổ đông” với vị thế đang lên, Trung Quốc ngày càng góp tiếng nói trong nhiều vấn đề quan trọng toàn cầu. Thế nhưng, nói đến yếu tố trách nhiệm tương xứng với vị thế của một cường quốc thì Trung Quốc đang ở đâu?
“Tư cách” của người “ngồi chiếu trên”
Ngày 17/3/2011, Stephen Olson và Clyde Prestowitz thuộc Viện Chiến lược kinh tế (Washington DC) đưa ra bản báo cáo thực hiện với sự ủy nhiệm của Ủy ban Xem xét an ninh kinh tế Trung Quốc - Hoa Kỳ thuộc Quốc hội Mỹ có tựa đề “Vai trò tăng dần của Trung Quốc trong các thể chế quốc tế”. Báo cáo cho thấy, Trung Quốc ngày càng hội nhập sâu vào nhiều tổ chức thế giới, từ Liên Hiệp Quốc (LHQ), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như các tổ chức chính trị khu vực như Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Và trong bài viết dài trên “The Washington Quarterly”, Michael Fullilove, Giám đốc Chương trình các vấn đề toàn cầu thuộc Viện Quan hệ quốc tế Lowy (Úc), cũng cho thấy thêm rằng, Trung Quốc từ hơn một thập niên nay đã khước từ chính sách giấu mình và bắt đầu tham gia tích cực vào các cuộc tranh luận liên quan nhiều đến vấn đề thế giới nổi cộm.
Sự thay đổi chiến lược từ phong thái thận trọng sang cách thức phô trương đã thể hiện tư duy chính trị quốc tế mới của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa phương hóa: Họ muốn tăng cường mức độ ảnh hưởng để có thể định hình luật chơi theo cách của họ, hơn là chấp nhận thụ động để Mỹ và phương Tây dắt dây xỏ mũi. Một nước vốn nghèo và bé cổ thấp họng sau khi hùng mạnh luôn muốn chứng tỏ vị thế mới của mình thật ra là điều dễ hiểu. Nhưng khi đã có thể vỗ ngực xưng tên là “cường quốc” thì “anh” không thể chỉ biết phát ngôn bạo mồm hay có mặt ở các phiên họp biểu quyết tìm kiếm cách thức giải quyết một vấn đề quốc tế mà “anh” còn phải cho thấy “anh” đã bắt đầu có đủ tư cách và làm tốt vai trò trách nhiệm của mình. Với Trung Quốc, sự gánh vác cần có của một nước lớn đối với các vấn đề chung của thế giới còn là điều đang bị tảng lờ. Nói cách khác, “cổ đông” Trung Quốc chỉ “góp vốn” cho các cuộc đầu tư chính trị mà có thể kiếm được lời. Còn không thì thôi. Đó có phải là một lối hành xử ích kỷ?
Trên diễn đàn LHQ, Trung Quốc chỉ nói và làm những gì không đụng chạm đến những “hạch tâm lợi ích” của mình
Nhìn lại cuộc họp thượng đỉnh về biến đổi khí hậu toàn cầu tổ chức tại Copenhagen. Vào những giờ cuối cùng trước khi cuộc họp kết thúc, khoảng 16h thứ Sáu 18/12/2009, trong phòng hội nghị trước hơn 20 nguyên thủ quốc gia, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã không kiềm chế được cơn giận khi chỉ trích với giọng mỉa mai: “Tôi nói điều này ra với tất cả sự kính trọng và tấm lòng bạn hữu, với tất cả sự tôn kính dành cho Trung Quốc … Phương Tây đã đồng thuận cam kết cắt giảm 80% khí thải gây hiệu ứng nhà kính, thế mà, phần mình Trung Quốc - chẳng bao lâu nữa sẽ là cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới - lại như muốn nói với thế giới rằng: “Cam kết này chỉ áp dụng cho quý vị chứ không phải cho chúng tôi!” ... Điều này là không thể chấp nhận!”.
Hóa ra Trung Quốc đã chủ trương đánh bài chuồn khỏi những ràng buộc cắt giảm khí thải. Buổi thảo luận được tổ chức bên lề hội nghị Copenhagen, được báo chí gọi là “cuộc họp thượng đỉnh mini” với lãnh đạo đại diện 25 nước, có Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Đức Angela Merkel, Thủ tướng Anh Gordon Brown, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh và nhiều nguyên thủ khác. “Sĩ số” phòng họp lại vắng mặt một nhân vật quan trọng: Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Thay vào đó, ngồi đối diện Tổng thống Obama chỉ là một “anh” viên chức ngoại giao Trung Quốc, hàm Thứ trưởng, ông Hà Á Phi! Và vậy là, như có thể thấy trước, hội nghị với sự tham gia của 192 quốc gia (nhằm đưa ra Nghị định thư Copenhagen, thay thế Nghị định thư Kyoto bắt đầu hết hiệu lực năm 2012), mà Thủ tướng Gordon Brown gọi là “hội nghị quốc tế quan trọng nhất từ sau Thế chiến thứ hai”, đã hạ màn với kết quả zero! Thế mà trước khi đến Copenhagen, Trung Quốc tuyên bố sẽ cắt giảm khí thải đến 40-45% so với mức năm 2005, vào trước thời hạn 2020!
Trung Quốc làm gì trong LHQ?
Chẳng khó khăn gì để thấy chiến thuật lẫn chiến lược Trung Quốc trên trường ngoại giao quốc tế, cụ thể là trong LHQ. Một mặt họ ra vẻ luôn sẵn sàng biết điều, biết chơi, biết ứng xử … khi tham gia vào một số hoạt động LHQ. Họ không muốn bị cho là nước lớn đứng ngoài lề đối với những chuyện lớn. Mặt khác, họ dè dặt lảng tránh những vấn đề không có lợi riêng cho quốc gia, dù cộng đồng quốc tế đang đòi hỏi và muốn Trung Quốc thể hiện thái độ quyết đoán nhất định.
Lấy ví dụ việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ của Trung Quốc. Hai thập niên qua, đóng góp của Trung Quốc cho hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ bắt đầu tăng dần. Tuy nhiên, sự có mặt Trung Quốc trong hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế luôn được tính toán cân nhắc, theo đúng “bản sắc” Bắc Kinh. Chẳng hạn, họ thường chỉ bỏ phiếu thông qua việc sử dụng lực lượng gìn giữ hòa bình tại những nước nào không công nhận Đài Loan! Thập niên 90 Bắc Kinh đã phủ quyết hoặc dọa phủ quyết các đề xuất đưa lực lượng Mũ nồi xanh LHQ đến Haiti, Guatemala và Macedonia bởi lý do trên. Xét về quân số, Trung Quốc có thể tự hào hiện là nước gửi quân nhiều nhất cho lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ nhưng không như phương Tây, Trung Quốc chỉ gửi cảnh sát và nhân viên y tế hơn là lính tác chiến cho lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ. Nói cách khác, trách nhiệm Trung Quốc là nằm ở những giới hạn trong gìn giữ an ninh, một khi khả năng dọn dẹp đổ máu đã qua đi…
Với Hội đồng Bảo an (UNSC), đã qua rồi cái thời Trung Quốc chỉ ngồi nghe ý kiến người khác. So với những thành viên thường trực khác trong UNSC, Trung Quốc là nước bỏ phiếu phủ quyết ít nhất: chỉ vỏn vẹn 4 phiếu từ năm 1971 đến 2002 (so với 75 của Mỹ). Trung Quốc thường tránh né bằng cách bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, trừ khi vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi quốc gia họ, đặc biệt như vấn đề Đài Loan hoặc Tây Tạng. Trong đấu trường LHQ, Trung Quốc sử dụng chính sách nước đôi: Sẽ có một Trung Quốc cứng rắn đầy mùi vị học thuyết trong Đại hội đồng LHQ và có một Trung Quốc mềm dẻo và thực tế hơn trong UNSC.
Trung Quốc thường đưa hai “diễn viên” với kỹ thuật diễn xuất khác nhau đến LHQ. “Anh” ở sân khấu Đại hội đồng LHQ thường thủ vai kẻ rắn đầu trong khi “anh” trong UNSC thường thủ vai tay chơi lọc lõi và tinh ranh hơn. Đơn cử với trường hợp Sudan. Trong UNSC, Trung Quốc liên tục làm loãng mức độ nghiêm trọng vụ việc, hoặc khước từ, hoặc vắng mặt trong những phiên thảo luận đưa ra giải pháp xử lý tình hình nội chiến Sudan. Tuy nhiên, khi nhận ra sự mong manh của chính thể đương quyền Sudan, Bắc Kinh bắt đầu hạn chế vai trò ông trùm bảo kê và hé mở khả năng ủng hộ LHQ! Cụ thể, khi ngồi ghế Chủ tịch UNSC năm 2007, Bắc Kinh đã đi cửa sau ép Chính phủ Khartoum (Sudan) chấp nhận một sứ mạng liên hợp của LHQ và Liên đoàn châu Phi nhằm buộc Sudan đồng ý thực thi Hiệp ước Darfur 2006. Tại sao Bắc Kinh trở mặt với Khartoum? Đó là thời điểm mà Bắc Kinh đang cần đánh bóng họ trước thềm Thế vận hội Bắc Kinh 2008! Hơn nữa, cục diện lôi thôi ở Sudan nếu tiếp diễn sẽ có thể lan rộng trong khu vực và ảnh hưởng trực tiếp đến các thương vụ đầu tư của Trung Quốc ở Lục địa đen.
Nhân vật gây tai tiếng Sa Tổ Khang
Văn hóa trong ngoại giao
Giới học giả chính trị quan hệ quốc tế tại Bắc Kinh nói rằng, khoảng cách dị biệt giữa Trung Quốc với phương Tây trên các diễn đàn quốc tế vẫn còn lớn, bởi Trung Quốc vẫn thường bị “hiểu lầm”, “hiểu sai”, “ngộ nhận”; bởi những “định kiến” và “ác cảm” xuất phát từ lòng “ganh tỵ” trước một Trung Quốc phát triển quá nhanh; và rằng những “nghị sự trách nhiệm” của phương Tây chỉ là những đòn phép chiến thuật được thiết kế nhằm làm hạn chế sự đi lên mạnh mẽ của Trung Quốc! Hãy để thực tế trả lời rằng, những ý kiến trên đúng hay sai.
Nếu là người tử tế thật sự, đừng bao giờ để xảy ra những chuyện đại loại như trường hợp một viên chức cấp cao LHQ người Trung Quốc - Sa Tổ Khang (Phó tổng thư ký đặc trách các vấn đề xã hội - kinh tế của LHQ), trong phiên họp tại một khu nghỉ mát ở Áo vào tháng 9/2010 - lại nhậu xỉn “quắc cần câu” rồi giật micro phát biểu oang oang với Tổng thư ký Ban Ki-moon rằng: “Tôi biết ông chẳng bao giờ ưa tôi, ông tổng thư ký à. Mà tôi cũng có bao giờ ưa ông đâu”. Viên chức họ Sa còn quay sang nhìn viên chức LHQ Robert Orr (người Mỹ) và lè nhè nói tiếp: “Tôi thật sự không thích cái thằng cha đó. Hắn là người Mỹ và tôi thật sự không thích bọn Mỹ” … Không hẳn là họ Sa đã “mượn rượu” để nói lên những gì thật sự vốn “trăn trở” lâu nay. Vì, trong cuộc phỏng vấn BBC năm 2006, nhân vật từng lăn lộn trong nghề ngoại giao suốt 4 thập niên này cũng đã tỉnh táo nói: “Cái bọn Mỹ này nên câm họng lại thì hơn. Im mồm đi. Mấy người là số một chắc? Sao cứ chỉ trích Trung Quốc vậy? Quên đi. Đến lúc câm họng lại đi. Mấy người có quyền làm bất cứ gì tốt cho mấy người nhưng đừng bảo chúng tôi là cái gì thì tốt cho Trung Quốc”. Thái độ và văn hóa của một viên chức ngoại giao thâm niên như Sa Tổ Khang, một đại diện Trung Quốc ở LHQ đã đủ để thấy được tư cách Trung Quốc ở trường ngoại giao quốc tế?
Trách nhiệm chẳng là cái gì?
Định nghĩa đơn giản của từ “trách nhiệm” là gì, hỏi Trung Quốc, họ sẽ có nhiều phiên bản giải thích khác nhau, tùy trường hợp cụ thể. Riêng trong lĩnh vực từ thiện, Trung Quốc, đến nay, vẫn là một trong những quốc gia (được xem là giàu) xếp đứng chót bảng!
Không lâu trước khi một chương trình đặc biệt - được báo chí gọi là “bữa tiệc Ba-Bi”, do 2 tỉ phú Warren Buffett và Bill Gates thân chinh đến Bắc Kinh tổ chức - bắt đầu diễn ra vào cuối tháng 9/2010, báo chí Trung Quốc đã đồn đoán rằng, chắc chỉ khoảng 1/2 trong số 50 tỉ phú Trung Quốc được mời là có mặt. Nhưng hơn 2/3 nhân vật có trong danh sách mời đã đến. Tuy nhiên, họ đến vì muốn tên mình xuất hiện bên cạnh 2 nhân vật từ thiện huyền thoại Warren Buffett và Bill Gates trong các bài báo xuất hiện vào hôm sau, hơn là đến để sẵn sàng chung tay đóng góp vào quỹ từ thiện của 2 tỉ phú Mỹ. Với người Trung Quốc, “từ thiện” là một khái niệm xa lạ đối với cuộc sống. Ghi nhận của Chính phủ Bắc Kinh cho biết, tổng số tiền quyên được từ các tổ chức hoạt động xã hội từ thiện đã tăng từ 1.5 tỉ USD (10 tỉ tệ) năm 2006 lên hơn 7.5 tỉ USD (50 tỉ tệ) năm 2009. Chẳng thấm vào đâu so với 300 tỉ USD/năm tại Mỹ.
Theo Giáo sư Đặng Quốc Thắng thuộc Trung tâm Nghiên cứu trách nhiệm xã hội và sáng tạo (Trường đại học Thanh Hoa), tại Trung Quốc, chỉ khoảng 20% đóng góp từ thiện hàng năm là đến từ các cá nhân. Ở Mỹ, tỉ lệ trên là 70%. Trong khi đó, Trung Quốc đang được biết đến như một thị trường hấp dẫn của sản phẩm cao cấp xa xỉ (thứ 2 thế giới, sau Nhật; nước mà có đến 17% dân số đóng góp từ thiện, so với 11% của Trung Quốc).
Giá trị của tinh thần bác ái nhân đạo từ Khổng Tử đã ít nhiều biến mất khỏi Trung Quốc hiện đại. Tại sao Trung Quốc ngày nay không có những người như Warren Buffett và Bill Gates? Vấn đề là lỗ hổng niềm tin. Như Tào Đức Vượng (Giám đốc điều hành Tập đoàn Phúc Diệu, nơi sản xuất kính lớn nhất Trung Quốc) từng nói rằng, ông có cảm giác bị lừa khi đưa tiền cho các tổ chức từ thiện, rằng chẳng biết liệu những đồng tiền đóng góp của mình có đến được tay người nghèo không. Trong nước đã vậy, với bên ngoài, Trung Quốc đương nhiên thua xa nhiều nước ở bảng đóng góp từ thiện toàn cầu.
Ngọc Trí
*****
“Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phá sản”

Vietnam +: 05/10/2012

Bắc Kinh phải nhận ra rằng phương thức "Trung Quốc giành tất cả" trong tranh chấp ở Biển Đông sẽ không đạt hiệu quả, mọi giải pháp đều phải dựa trên tinh thần thỏa hiệp và sẽ không có được giải pháp nếu bất kỳ bên nào ngoan cố.

Đó là cảnh báo của giới phân tích được đăng trên Mạng lưới An ninh và Quan hệ Quốc tế (ISN), một trong những trang mạng hàng đầu thế giới chuyên đăng tải và cung cấp thông tin cho giới chuyên gia trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và an ninh, vừa được đài TNHK đăng tải.
 
Tác giả bài viết là Theresa Fallon, thành viên cao cấp thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu về Châu Á có trụ sở tại Bỉ, và Tiến sĩ Graham Ong-Webb, chuyên viên cố vấn phụ trách Văn phòng Đông Nam Á của tổ chức tư vấn rủi ro toàn cầu Control Risks đặt tại Singapore.

Các tác giả cho rằng chiến lược "giành tất cả" của Bắc Kinh tiếp tục khiến quan hệ giữa Trung Quốc với các nước khác ngày càng trở nên phức tạp và Bắc Kinh đang đánh mất bạn bè vì cách hành xử của mình ở Biển Đông cũng như Biển Hoa Đông.
 
Theo hai nhà phân tích trên, sở dĩ chiến lược "giành tất cả" của Trung Quốc ở Biển Đông gặp trở ngại là vì các tuyên bố chủ quyền dựa trên lịch sử của Trung Quốc không thuyết phục được các bên, cộng với những khó khăn trong việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền chồng chéo giữa Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam, Indonesia, Philippines, Malaysia và Brunei.

Hai phân tích gia Ong-Webb và Fallon nhấn mạnh để các cơ chế luật quốc tế phát huy hiệu quả trong tranh chấp Biển Đông, trước tiên Trung Quốc phải nhìn thấy rằng quyền lực kinh tế hay quân sự không thể giải quyết được tranh chấp chủ quyền, mà cần phải áp dụng "quyền lực mềm" để tìm bạn và vận dụng vai trò lãnh đạo trong khu vực, cũng như phải áp dụng phương thức cùng nhau chia sẻ nguồn tài nguyên.

Vietnam+

*****

Chuyển giao lãnh đạo và chính sách đối ngoại của Trung Quốc
Nghiên Cứu Biển Đông - Thứ ba, 09 Tháng 10 2012 - dinh tuan anh
Khó có thể có sự thay đổi căn bản về chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong bối cảnh cân bằng lực lượng quốc tế đã định hình, sự phát triển thường xuyên về lợi ích quốc gia của Trung Quốc và nhu cầu về sự tiếp tục trong chính sách kinh tế đối nội của Trung Quốc.
Tuy vậy, có một số thứ sẽ thay đổi trong những năm tới. Các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đã sẵn sàng để đương đầu với hệ thống quốc tế và các thể chế của nó. Một cảm giác gia tăng xuất phát từ năng lực ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc xử lý các vấn đề quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội mới để Trung Quốc ngày càng dính líu tới các công việc quốc tế. Nhưng một môi trường quốc tế ngày càng phức tạp sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải có những cách tiếp cận thuần thục hơn nếu nó muốn sử dụng ngoại giao và sử dụng quốc lực tổng thể một cách hiệu quả.
Thử thách lớn nhất đối với ban lãnh đạo trong tương lai gần là Trung Quốc sẽ sử lý các tranh chấp liên quan đến lợi ích của Trung Quốc tại Trường Sa với các nước láng giềng như thế nào. Trung Quốc khó có thể từ bỏ chính sách hoà giải của nó hiện nay thông qua các đối thoại song phương và đa phương tìm cách giải quyết các xung đột thông qua các thể chế pháp lý quốc tế bằng việc xem xét các bằng chứng lịch sử liên quan tại Biển Đông và các nơi khác. Trung Quốc coi chính sách này là một cơ hội để chứng minh năng lực lãnh đạo của mình trong việc giải quyết các tranh chấp rộng hơn trong cộng đồng quốc tế.
Về mặt lý thuyết, Trung Quốc giữ quyền giải quyết các tranh chấp này bằng mọi cách mà nó có thể sử dụng, nhưng lý tưởng mà nói, nó sẽ lựa chọn thông qua giải pháp ngoại giao. Việc lãnh đạo mới của Trung Quốc có ngày càng quyết đoán hơn trong các đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ hay không còn phụ thuộc vào việc họ có tính đến hiệu quả và lợi ích thực sự mang lại. Những nhận thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố quốc tế và trong nước.
Yếu tố bên trong chủ yếu bao gồm an ninh năng lượng, khoáng sản và nguồn lợi thuỷ sản. Trung Quốc sẽ phải đối mặt với triển vọng ngày càng tồi tệ liên quan đến an ninh tài nguyên về ngắn hạn và những sức ép như vậy có thể ảnh hưởng đến hành vi đối ngoại của nó. Giải pháp cơ bản cho Trung Quốc cho vấn đề này là phải tăng một cách có ý nghĩa việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, mục tiêu cuối cùng là đạt được mức độ sử dụng hiện nay của Nhật Bản. Lý tưởng nhất sẽ là Trung Quốc phải cắt việc sử dụng thực tế nguồn năng lượng trong những năm tới. Việc các nhà lãnh đạo mới phải đầu tư cho một chiến lược năng lượng dài hạn là việc làm vô cùng thiết yếu.
Về vấn đề Biển Đông, ban lãnh đạo mới phải đưa ra được một giải pháp tổng thể cho các nước láng giềng ASEAN của Trung Quốc để giải quyết những đòi hỏi riêng rẽ của họ theo một cách thực sự cân đối nhất. Những biện pháp như vậy sẽ bao gồm cả ngoại giao phòng ngừa, cùng quản lý và phát triển những khu vực, nguồn nước và tài nguyên tranh chấp.
Những thách thức và cơ hội khác đối với Trung Quốc sẽ là phải tạo ra được những tiêu chuẩn về an ninh vũ trụ, không gian mạng. Những chính sách đối với những vấn đề này và những vấn để chung toàn cầu của ban lãnh đạo mới sẽ giúp nâng cao năng lực của Trung Quốc nhận thức được tiềm năng của họ để trở thành một siêu cường có trách nhiệm và có năng lực.
Bước vào thập kỷ hai của thế kỷ này, Trung Quốc phải cẩn thận không để cho chính sách đối ngoại của mình bị đặc trưng là sự bất đồng với các nước khác, mà phải đặc trưng bằng việc đưa ra các sáng kiến và tính đồng thuận chung. Thông qua việc tôn trọng vai trò lãnh đạo của các nước trong khu vực, Trung Quốc cần thiết phải đảm bảo được rằng cộng đồng quốc tế tin vào các ý định hoà bình của mình.
Trung Quốc đã tìm cách tăng uy tín của mình đối với các quốc gia khác thông qua quyền lực mềm. Bởi vậy, Trung Quốc phải tuân theo các luật lệ quốc tế khi tham gia để tạo ra cho mình một hình ảnh là một cổ đông có trách nhiệm. Việc này sẽ xua đi những quan ngại về những ý định và mục đích chiến lược của Trung Quốc. Trung Quốc có thể áp dụng tốt nhất sức mạnh mềm của mình thông qua việc thúc đấy sự tăng trưởng và phát triển xã hội của mình. Trung Quốc cũng có thể tăng cường năng lực của mình để có tác động tích cực đến các nước khác bằng cách nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ công dân của mình, và mở rộng hỗ trợ bảo vệ như vậy ở nước ngoài thông qua các diễn đàn và những sứ mệnh quốc tế.
Về quan hệ Trung - Mỹ, bất cứ vấn đề nào cũng là cơ hội và thách thức. Mỹ chưa bao giờ rời châu Á, bằng cách “tái cân bằng lại” Mỹ chỉ đơn giản là nhấn mạnh lợi ích của mình bằng cách tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở châu Á và phối hợp hành động tại đây. Trong khi Mỹ muốn ổn định khu vực này, nhưng những hành động của Mỹ có thể đạt được mục đích đó, nhưng cũng có thể làm mất ổn định khu vực. Tuy vậy, Trung Quốc và Mỹ cùng chia sẽ lợi ích chung trong khu vực là ổn định và Bắc Kinh sẽ hoan nghênh bất cứ một hành động nào của Mỹ đối với mục đích đã tuyên bố.
Trong số các khả năng khác nhau, mối quan hệ thương mại ngày càng cân bằng sẽ tạo ra những tiềm năng lớn cho sự hợp tác của hai nước. Trung Quốc chẳng bao lâu sẽ vượt Mỹ trở thành nước nhập khẩu lớn nhất và sẽ tăng xuất khẩu lên hai lần trong vòng năm năm tới. Cũng trong cùng thời gian, Mỹ cũng sẽ tăng gấp đôi xuất khẩu của mình. Kế hoạch của hai nước sẽ lợi cho cả đôi bên.
Nhiều triển vọng ảm đạm hơn sẽ xuất hiện khi xem xét đến việc xử lý và an ninh của các vấn đề chung toàn cầu thí dụ như khoảng không, khu vực hàng hải và không gian ảo. Những vấn để này rất có thể sẽ thống trị những bất đồng trong việc phối hợp giữa Mỹ và Trung Quốc trong khi những chủ để như Đài Loan lại rất ít bị bùng nổ trong thập kỷ tới./.
Theo East asia forum (ngày 8/10)
Vũ Hiền (gt)

*****

Căng thẳng Trung - Nhật: Kinh tế thế giới lãnh đủ
Vietnam Net - 12/10/2012
Quyết định vắng mặt tại hội nghị IMF ở Tokyo của Bộ trưởng tài chính và Thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc cho thấy, nền kinh tế thế giới trong đó có Trung Quốc có thể sẽ phải đối mặt với những thiệt hại nghiêm trọng nếu như căng thẳng chính trị giữa hai nước vẫn còn tiếp tục leo thang.
Coi nhẹ hợp tác quốc tế

Mối quan hệ đang bị tổn thương giữa Nhật Bản và Trung Quốc lại đang phải chứng kiến một cơn bão mới vào hôm thứ Tư vừa qua (10/10) khi thống đốc ngân hàng Trung Ương Trung Quốc Zhou Xiaochuan và bộ trưởng tài chính Xie Xuren vào phút chót đã quyết định sẽ vắng mặt tại hội nghị cấp cao các lãnh đạo tài chính toàn cầu được tổ chức ở thủ đô Nhật Bản Tokyo trong tuần này. Trước đó, một số lãnh đạo các ngân hàng hàng đầu của Trung Quốc cũng quyết định hủy bỏ kế hoạch tham gia hội nghị.

Động thái này báo hiệu những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng mà thế giới sẽ phải đối mặt nếu như căng thẳng giữa hai quốc gia này vẫn tiếp tục leo thang, các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích và chính trị gia tại đây cảnh báo.

Theo kế hoạch, ông Zhou Xiaochuan sẽ có vai trò quan trọng trong hội nghị IMF lần này khi bàn về những vấn đề kinh tế nổi cộm trên toàn cầu trong đó có việc làm sao để giải quyết một cách tốt nhất cuộc khủng hoảng khu vực đồng tiền chung.

Trung Quốc là thành viên quan trọng trong những cuộc thảo luận này bởi ngân hàng trung ương nước này là người mua lớn các loại trái phiếu Euro zone. Trung Quốc sẽ cử đại diện của ngân hàng trung ương và bộ tài chính tới Tokyo để tham dự hội nghị, tuy nhiên nhưng người này không thể thay thế được vai trò của ông Zhou và ông Xie.


Hai quan chức lãnh đạo tài chính tiền tệ của Trung Quốc không tham dự cuộc họp IMF

Tiết lộ về sự vắng mặt của hai nhân vật quan trọng đến từ nền kinh tế lớn thứ 2 trong hội nghị hàng năm của IMF và WB đã khiến cho thị trường chứng khoán sụt giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 2 tháng qua.

Các quan chức chính phủ Nhật Bản khẳng định, sự vắng mặt của các lãnh đạo Trung Quốc tại hội nghị IMF tuần này sẽ làm tổn hại đến chính họ hơn là Nhật Bản. Hành động này có thể gây tổn hại đến uy tín của Trung Quốc với cương vị là thành viên của cộng động quốc tế, lấy đi cơ hội tăng cường mối quan hệ hợp tác với các quốc gia khác.

Bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Koichiro Gemba nói: “sự vắng mặt của thống đốc ngân hàng Trung ương Trung Quốc tại hội nghị IMF và WB không chỉ là dấu hiệu xấu cho mối quan hệ Nhật - Trung mà còn cho cả nền kinh tế thế giới. Tôi không cho rằng điều này sẽ tốt cho Trung Quốc. Cộng đồng quốc tế sẽ nhìn nhận và đánh giá về những động thái này”.

Tín hiệu xấu cho nền kinh tế thế giới?

Tranh chấp về chủ quyền một quần đảo nhỏ tại biển Đông đã khiến cho quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng này vô cùng căng thẳng trong thời gian qua. Nhiều cuộc biểu tình, thậm chí là xung đột đã diễn ra tại Trung Quốc nhằm vào người Nhật. Hàng hóa Nhật Bản gặp hạn tại thị trường Trung Quốc trong khi đó hoạt động du lịch tại hai quốc gia cũng trong tình trạng lao dốc.

Vào thứ Ba, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã công bố mức sụt giảm thảm hại về doanh thu tại thị trường Trung Quốc sau những vụ tấn công vừa qua nhằm vào các sản phẩm và dịch vụ kinh doanh của Nhật Bản.

Toyota cho biết, doanh thu bán hàng tháng 9 của họ giảm đến 49%. Ông Dion Corbett, đại diện của hãng này cho biết, với mức sụt giảm này, thật khó để Toyota có thể đạt được mục tiêu tại Trung Quốc. Trong khi Honda và Nissan cũng giảm 41% và 35% doanh thu. Các nhà sản xuất khác như Mitsubishi Motors cũng công bố mức giảm lớn tại thị trường này.

Các cuộc tấn công, biểu tình đã buộc nhiều doanh nghiệp Nhật Bản phải quyết định tạm thời đóng cửa hoạt động tại Trung Quốc. Tranh chấp không chỉ khiến cho các doanh nghiệp Nhật bị thiệt hai nặng nề mà còn tổn hại đến thị trường xe hơi lớn nhất thế giới.

Theo hiệp hội xe hơi Trung Quốc, doanh thu tháng 9 lần đầu tiên bị sụt giảm trong vòng 9 tháng qua càng làm gia tăng áp lực đối với toàn ngành công nghiệp và cả nền kinh tế đang đi xuống của Trung Quốc. Doanh số bán hàng tháng 9 giảm 0.3% về mức 1.32 triệu xe so với năm ngoái mà nguyên nhân quan trọng chính là sự giận dữ của người tiêu dùng Trung Quốc trước những diễn biến của vụ tranh chấp biển đảo.

Trong khi các cuộc biểu tình tấn công đã có dấu hiệu lắng dịu thì những mất mát về kinh tế dường như vẫn đang tiếp tục. Cũng vào hôm thứ Tư vừa qua (10/10), một số chuyên gia phân tích đã giảm dự báo về triển vọng tăng trưởng của các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản cũng các công ty làm ăn lớn tại Trung Quốc.

Ngân hàng J.P. Morgan hôm trước đó cũng ước tính, các cuộc tẩy chay của người Trung Quốc đối với hàng hóa và dịch vụ Nhật bản có thể khiến cho nền kinh tế Nhật Bản giảm 0.8% vào quý cuối cùng năm nay. Nếu như căng thẳng vẫn còn ở mức cao thì vào năm 2013, tăng trưởng kinh tế của nước này sẽ bị mất 0.2%.

“Tôi thực sự vô cùng lo lắng” về những căng thẳng đang leo thang giữa Nhật Bản và Trung Quốc”- ông Tomoya Masanao, một nhà quản lý đầu tư của tập đoàn Pacific Investment Management tại Nhật Bản cho biết. Ông Masanao dự đoán diễn biến này có thể chỉ là tạm thời, tuy nhiên ông cũng cảnh báo IMF cần theo dõi xem liệu tình hình sẽ tiếp tục kéo dài bao lâu và nhìn nhận nó sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của Nhật Bản cũng như quan hệ thương mại như thế nào.

Ngân hàng Deutsche vào hôm thứ Tư cũng giảm 2.4% dự báo về doanh thu năm trên mỗi cổ phiếu của Toyota chủ yếu là do lo ngại về mối quan hệ với Trung Quốc. Goldman Sachs cũng với lý do tương tự đã cắt giảm dự báo lợi nhuận kinh doanh của 16 công ty trong đó có nhà sản xuất máy in nổi tiếng Canon và hãng máy ảnh Olympus.

“Nhật Bản rõ ràng là đang chuyển tập trung nhiều hơn sang hoạt động đầu tư và kinh doanh nước ngoài, do vậy, các mối quan hệ chính trị đóng vai trò quan trọng. Quan tâm và giải quyết thấu đáo vấn đề này (tranh chấp) là vô cùng cần thiết đối với lợi ích của các doanh nghiệp Nhật Bản”, ông Martin Shulz, chuyên gia kinh tế cao cấp tại Viện nghiên cứu Fujitsu cho biết tại một diễn đàn biên lề hội nghị IMF.

Trong khi đó, ông Eswar Prasad, cựu quan chức cấp cao của IMF, hiện làm việc tại Viện Brookings nói: "Có lẽ Trung Quốc chưa thực sự tinh tế khi thể hiện sự bất mãn và khó chịu của mình khi cuộc tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản đang tiếp tục leo thang. Hành động của Trung Quốc cho thấy, họ đặt vấn đề về tranh chấp biển đảo lên trên cả các vấn đề chính trị và kinh tế".
HUNGNINH (TH)
*****

Cáo lỗi cùng thế giới: Những gì xảy ra ở Bắc Kinh sẽ không giới hạn tại Bắc Kinh


Trần Ngọc Cư dịch – Bauxite Việt Nam - 30/10/2012

Minxin Pei là một giáo sư môn Chính phủ tại Đại học Claremont McKenna và là một nhà nghiên cứu thâm niên không thường trú tại Quỹ Marshall Đức của Hoa Kỳ. Công trình nghiên cứu của ông đã được đăng trên các tạp chí Foreign Policy, Foreign Affairs, The National Interest, Modern China, China Quaterly, Journal of Democracy và trong nhiều sách được biên tập. Nhiều bài xã luận của ông đã xuất hiện trên các báo Financial Times, New York Times, Washington Post, Newsweek International, và International Herald Tribune, cũng như nhiều nhật báo quan trọng khác - The Diplomat.

Một trong những câu hỏi ám ảnh đầu óc của hầu hết các nhà quan sát tình hình Trung Quốc (TQ) hiện nay là, Bắc Kinh sẽ ứng xử thế nào với thế giới bên ngoài khi chính quyền này phải đối diện với một tình hình nội bộ khó khăn hơn nhiều? Trong những thách thức rõ nét mà Trung Quốc sẽ đối phó trong những năm sắp tới có những vấn đề như tính năng động kinh tế đang suy giảm, một cơ cấu làm quyết sách với quyền lực bị tản mác và thiếu ổn định, chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy, những đòi hỏi cải tổ chính trị ngày càng gia tăng, và nỗi bất bình của dân chúng đối với nguyên trạng (the status quo) đang lan rộng [The status quo còn được dịch ra tiếng lóng là “Vũ Như Cẫn”, ND].

Nói chung, những khó khăn nội bộ này sẽ làm suy giảm các nguồn lực có thể có được để duy trì và bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới, sẽ giới hạn khả năng quân đội Trung Quốc trong nỗ lực hiện đại hóa, và sẽ khiến các lãnh đạo TQ trở nên dè dặt hơn trong việc đảm nhận những trách nhiệm quốc tế và khu vực quan trọng hơn. Điều đáng lo ngại hơn cả là, thái độ ứng xử thất thường của Trung Quốc, do hậu quả của một hỗn hợp gồm thiếu kinh nghiệm lãnh đạo và bất ổn chính trị, rất có thể sẽ đánh dấu cách điều hành chính sách đối ngoại của Bắc Kinh trong những năm tới.

Dựa trên địa vị nổi bật mà Trung Quốc đã nắm giữ trong việc phóng chiếu ảnh hưởng kinh tế của mình khắp thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển có nhiều tài nguyên, người ta có thể cho là hoang tưởng, nếu có ai bảo rằng những khó khăn kinh tế đang ló dạng trong nước có thể hạn chế nghiêm trọng khả năng của Trung Quốc trong việc khẳng định mình như một cường quốc kinh tế thay thế cho phương Tây. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn cái cung cách mà Trung Quốc đã và đang tài trợ các đầu tư của mình tại châu Phi, Trung Á, và châu Mỹ La tinh, người ta sẽ chứng minh được rằng những đầu tư này không những tốn kém, mà lại còn chứa đầy rủi ro.

Những khoản trợ cấp và cho vay ưu đãi mà Trung Quốc đã cung cấp cho nhiều nước khác nhau để giành lấy thiện chí của họ ít ra đã lên đến một con số tổng cộng hàng chục tỷ đôla (đây là những con số được báo cáo; không ai biết được con số đích thực). Những khoản vay này được thực hiện vào giai đoạn Trung Quốc có mức tăng trưởng trên 10% và dư thừa tiền mặt để vung vít. Nhưng khi kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu giảm tốc và lượng tiền chảy vào ngân khố của Bắc Kinh giảm đi, thì Chính phủ Trung Quốc hẳn nhiên sẽ không đủ ngân sách để duy trì những mũi tiến công kinh tế và ngoại giao này. Xét về chính trị nội bộ, nếu Nhà nước TQ tiếp tục duy trì một chương trình ngoại viện hào phóng khi dân chúng trong nước đang vật lộn với cuộc sống, thì việc này chắc chắn sẽ kích động những chỉ trích gay gắt từ phía dân chúng. Cách đây không lâu, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã bị lên án gay gắt khi có tin tiết lộ rằng Trung Quốc đã viện trợ cho Macedonia những xe buýt an toàn để chở học sinh trong khi con em trong nước phải đến trường trên những phương tiện chuyên chở bấp bênh.
Cuộc xâm nhập đầy rủi ro của Trung Quốc vào các nước đang phát triển sẽ gặp phải một trở ngại khác. Hầu hết các dự án tầm cỡ mà Trung Quốc hậu thuẫn tại những nước này được tài trợ do các khoản vay từ các ngân hàng nhà nước Trung Quốc. Dựa vào kinh nghiệm trước đây, nhiều dự án trong số này có khả năng thất bại. Khi chính các ngân hàng Trung Quốc được dự kiến sẽ vật lộn với một loạt nợ không sinh lãi ở trong nước, các ngân hàng này sẽ không muốn tiếp tục tài trợ các dự án có mức rủi ro cao và lợi nhuận thấp như thế ở nước ngoài. Vì thế, mọi người có thể thấy trước, một Trung Quốc suy yếu ở trong nước có nghĩa là một Trung Quốc mất dần ảnh hưởng ở nước ngoài.
Một tổn thất hiển nhiên khác là chiến dịch khoa trương của Trung Quốc để phóng chiếu “quyền lực mềm” (soft power). Được mệnh danh ở trong nước là “dawaixuan” (cuộc tuyên truyền to lớn ở nước ngoài), chiến dịch này đã dẫn đến việc mở rộng sự hiện diện của các phương tiện truyền thông chính thức Trung Quốc khắp thế giới. Tân Hoa Xã, chẳng hạn, đã phát động chương trình tin tức truyền hình bằng tiếng Anh. Tờ lá cải dân tộc chủ nghĩa, Global Times (Hoàn cầu Thời báo), đã thêm một phiên bản tiếng Anh. Tờ báo chính thống China Daily thường xuyên chiếm nguyên một trang quảng cáo trên các tờ The New York Times, The Wall Street Journal, và The Washington Post. Nếu phán đoán từ sự kiện hình ảnh của Trung Quốc đang trở nên tồi tệ khắp thế giới, thì chiến dịch tuyên truyền này đã hoàn toàn thất bại. Khi các vị trưởng ban tuyên truyền của Bắc Kinh tiếp nhận những ngân sách khắc khổ trong vòng một hoặc hai năm tới, thật khó mà tưởng tượng được họ sẽ quyết định phung phí tiền bạc như trước đây.
Ảnh hưởng kinh tế, văn hóa, và ngoại giao đang suy yếu của Trung Quốc, do sự cắt giảm các nguồn lực tài chính gây ra, không phải là nạn nhân duy nhất của những khó khăn trong nước. Giải phóng quân Nhân dân (GPQND), trong gần hai thập niên qua có mức tăng trưởng ngân sách trên 10%, chắc chắn phải tranh đấu nhiều hơn nữa để giành lấy phần mình trong một chiếc bánh nhỏ hơn. Tiến độ của việc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc có thể chậm lại. Đối với các nước láng giềng của Trung Quốc, tình hình này sẽ làm cho họ bớt lo lắng. Washington, hẳn nhiên, có thể thở dài nhẹ nhõm. Tuy nhiên, một kết quả như vậy là không có gì chắc chắn. Người ta tưởng tượng được rằng GPQND có thể lấy cớ phải đối phó với chiến lược “xoay trục” của Mỹ và các tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản, Philippines, và Việt Nam, để đòi hỏi thêm nhiều chi phí quốc phòng. Ví như GPQND có thành công trong đòi hỏi của mình đi nữa, tổ chức này sẽ phải trả một giá đắt bởi vì quân đội Trung Quốc còn phải cạnh tranh với những tập thể chính trị khác có quyền lực không kém, như các doanh nghiệp Nhà nước, guồng máy thư lại, và các chính quyền địa phương, để giành lấy ngân sách đang bị cắt giảm.
Một số nhà quan sát phương Tây có thể vui mừng về những thảm trạng đang chồng chất bên trong Trung Quốc vì chúng sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc và giảm thiểu “mối đe dọa của Trung Quốc”. Nhưng họ cần phải thận trọng về những gì họ đang mong muốn. Một Trung Quốc dù suy yếu vẫn có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự thế giới.
Thiệt hại hiển nhiên khi Trung Quốc bị suy yếu bên trong sẽ là thái độ e ngại của Bắc Kinh trong việc đóng một vai trò xây dựng hơn trong các vấn đề toàn cầu và khu vực. Những người hoài nghi có thể nói rằng các lãnh đạo Trung Quốc, ngay cả trong thời kỳ đất nước thịnh vượng, vẫn nói thì nhiều mà thực hiện thì ít. Mặc dù một số trong những lời chỉ trích đó là đúng sự thực, nhưng nếu đánh giá khách quan hơn, ta sẽ thấy rằng thỉnh thoảng Bắc Kinh cũng đóng một vai trò tích cực nhưng không được nhìn nhận xứng đáng, chẳng hạn trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á những năm 1997-98 và trong nỗ lực thúc đẩy tự do mậu dịch khu vực. Thậm chí về Bán đảo Triều Tiên, Bắc Kinh đã gây áp lực khiến Bình Nhưỡng bớt hung hăng hơn trước, kể từ đầu năm 2011 (sau khi không làm điều đó trong năm 2010). Về Iran và Libya, Trung Quốc cũng tránh thọc gậy bánh xe. Về các cuộc thảo luận khí hậu toàn cầu, lập trường đàm phán đang diễn biến của Bắc Kinh cũng cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, ngay cả những đóng góp khiêm nhượng của Trung Quốc cho trật tự thế giới cũng có nguy cơ tan biến nếu các lãnh đạo TQ, vì quá bận tâm với những khủng hoảng trong nước, phải quyết định chấm dứt mọi đóng góp.
Quan niệm thông thường về một Trung Quốc suy yếu là, nước này sẽ trở nên hiếu chiến hơn vì giới lãnh đạo của nó sẽ thấy có lợi trong việc đánh lạc hướng sự chú ý của dân chúng bằng những hô hào về lòng yêu nước và bằng một chính sách đối ngoại hung hăng hơn. Đây là một lối giải thích giản đơn về cung cách ứng xử của Bắc Kinh. Chắc chắn là, những cám dỗ này đang hiện hữu, và người ta có thể dự kiến rằng các lãnh đạo mới của Trung Quốc, vì bị hạn chế bởi thiếu kinh nghiệm và thiếu vốn liếng chính trị, sẽ lợi dụng những tình cảm dân tộc chủ nghĩa của người dân. Nhưng nói cứng là một chuyện, mà hành động cứng rắn lại là một chuyện khác. Khi chúng ta nghiên cứu kỹ hành vi ứng xử trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong vòng 60 năm qua, chúng ta sẽ thấy rằng Bắc Kinh, dù ăn nói đao to búa lớn, thực ra đã lựa chọn kỹ càng các trận đánh trước khi lâm chiến. Ý thức sâu sắc về các khả năng quân sự hạn chế của mình, các lãnh đạo Trung Quốc đã tránh lao vào những cuộc chiến mà họ biết chắc sẽ thua.
Nếu ta áp dụng tư duy này vào việc phỏng đoán hành vi đối ngoại của Trung Quốc trong những năm sắp tới, chúng ta nắm chắc một điều là Trung Quốc sẽ ở trong một tình trạng bấp bênh (uncertainty). Sự tự tin phát xuất từ một nền kinh tế mạnh và tình hình tương đối ổn định ở trong nước sẽ biến mất, và thái độ tự chế (self-imposed restraints) về các luận điệu sô vanh cũng tiêu tan luôn. Những thách thức nhiều mặt đối với giới lãnh đạo mới -- khả năng kinh tế bị đình đốn, bất ổn xã hội, tình trạng chia rẽ ở chóp bu, và sự phục hưng các lực lượng dân chủ -- sẽ gây ra tình trạng thiếu tập trung và yếu kém chính trị trong việc duy trì kỹ luật đối với nhiều tác nhân có liên quan đến chính sách đối ngoại.của Trung Quốc.Hậu quả của những rắc rối nội bộ chồng chất này, mặc dù không nhất thiết có tác động dữ dội, nhưng chắc chắn sẽ đưa đến một lề thói ứng xử thất thường, gây lo ngại và đặt ra nhiều câu hỏi cho các láng giềng của Trung Quốc và phần còn lại của cộng đồng quốc tế.
*****

 

Chủ nghĩa dân tộc đe dọa sự yên bình ở Biển Đông

RFI - Chủ nhật 04 Tháng Mười Một 2012
Biểu tình chống Nhật tại Sơn Đông ngày 19/08/2012.
Biểu tình chống Nhật tại Sơn Đông ngày 19/08/2012 - REUTERS/Stringer

Lê Phước

Hồi tháng 4/2012, Trung Quốc và Philippines đối đầu quanh bãi đá ngầm Scarborough, đến tháng 6 Việt Nam thông qua luật biển khiến Trung Quốc phản ứng bằng cách thành lập thành phố Tam Sa, tiếp đó, tháng 9 Nhật Bản tuyên bố quốc hữu hóa một số đảo của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư dẫn đến việc cả nước Trung Quốc bị rúng động vì các cuộc biểu tình bài Nhật. Những cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ như vậy càng bị khuấy động thêm bởi tinh thần dân tộc ở mỗi nước liên quan.

Nguyệt san Le Monde Diplomatique số ra tháng 11 nhìn về khu vực tranh chấp nhạy cảm này với bài phân tích khá sâu sắc. Bài viết chạy dòng tựa báo động: Chiến tranh dân tộc chủ nghĩa trên vùng biển xung quanh Trung Quốc.
Nói về chính quyền trung ương Bắc Kinh, tác giả cho rằng, những động thái mạnh bạo của Trung Quốc với các nước láng giềng trong thời gian gần đây cho thấy nhà cầm quyền hiện tại của Trung Quốc đã thoát ly khỏi chính sách được ông Đặng Tiểu Bình khơi mào trước kia. Hồi ấy, ông Đặng chủ trương tạm gác lại tranh chấp để bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng trong mục đích tất cả cùng phát triển. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng đã từng tuyên bố: Gác lại tranh cãi và tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển chung. Ấy thế nhưng, tác giả cho rằng, lời nói này chỉ là chót lưỡi đầu môi, bởi trong thực tế hành động của phía Trung Quốc thì hoàn toàn khác.
Nhìn về chính quyền các địa phương của Trung Quốc, tác giả mang đến một thông tin đáng suy ngẫm, đó là việc nhà cầm quyền ở một số địa phương Trung Quốc có hành động đôi khi vung tay quá trán, tức vượt quyền hạn cho phép và gây lún túng cho Bắc Kinh. Tác giả chỉ rõ, chính quyền Hải Nam, Quảng Đông và Quảng Tây muốn tìm đầu ra cho các doanh nghiệp của mình, mà đầu ra càng lớn thì kinh tế địa phương càng thịnh vượng, kinh tế địa phương càng thịnh vượng thì vai trò của họ trong bộ máy nhà nước càng được chắc chắn.
Bởi thế họ đã khuyến khích ngư dân xâm nhập sâu hơn vào vùng biển tranh chấp bằng cách buộc họ hiện đại hóa tàu bè và trang bị các hệ thống vệ tinh hàng hải. Đồng thời, họ cũng ưu tiên cấp phép cho các tàu lớn. Chính quyền Hải Nam cũng đã nhiều lần muốn phát triển du lịch trên quần đảo Hoàng Sa (tác giả dùng tên quốc tế là Paracels) bất chấp sự phản đối quyết liệt của phía Việt Nam. Tóm lại, chính sách của các địa phương trong quan hệ với Bắc Kinh là hành động trước suy nghĩ sau, tức đẩy con cờ của mình xa đến mức có thể, đến khi mà chính quyền trung ương cau mày mới chịu thôi.
Bắc Kinh dùng chiêu bài dân sự trong tranh chấp lãnh thổ
Tác giả cũng đi vào phân tích sự ganh đua của hai lực lượng cảnh sát biển đầy quyền lực và lực lượng hải giám trực thuộc bộ đất đai và tài nguyên, và cơ quan bảo vệ luật đánh bắt hải sản trực thuộc bộ nông nghiệp. Hai cơ quan này ra sức tranh giành tiền trợ cấp và các khoản ưu ái của nhà nước để đạt được càng nhiều tiền càng tốt. Nguồn thu càng lớn trên việc đánh thuế cũng là một lợi ích trong việc thăng quan tiến chức của họ. Bởi thế, họ không ngần ngại để cho ngày càng nhiều tàu đánh bắt xâm nhập vùng biển tranh chấp.
Thêm vào đó, chính quyền trung ương cũng thấy rằng, sử dụng các lực lượng mang tính dân sự như hai cơ quan này sẽ tránh được nhiều rủi ro hơn khi sử dụng lực lượng thuần túy quân sự. Còn đối với lực lượng hải quân Trung Quốc, dù rằng sự hiện diện của lực lượng này trên biển Đông ngày càng gia tăng, nhưng đến hiện tại họ vẫn giữ vai trò thứ yếu. Bởi một khi có xung đột, hoặc là họ vẫn ở sau hậu quân hoặc là họ sẽ đến trễ, bởi thế vai trò của chính quyền địa phương trong việc đối mặt trực diện với sự cố sẽ giữ một vai trò trọng yếu.
Tuy vậy, tác giả cho rằng chính sách tăng cường và hiện đại hóa hải quân một cách hoàn toàn không minh bạch của Trung Quốc cũng là một đầu mối gây căng thẳng, tạo ra một cuộc đua vũ trang trong khu vực. Nói về bộ ngoại giao Trung Quốc, thì vai trò của bộ này trong thực tế rất hạn chế. Tác giả cho rằng, những cơ quan nắm quyền lực thật sự trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh là bộ thương mại, bộ tài chính, bộ an ninh quốc gia và Ủy ban phát triển và cải cách nhà nước.
Chính phủ Bắc Kinh muốn sử dụng chiêu bài dân tộc chủ nghĩa để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Thế nhưng, tác giả cho rằng, coi chừng lâm cảnh gây ông đập lưng ông. Tác giả nhắc lại, hồi đầu năm 2012, để làm dịu căng thẳng, bộ ngoại giao Trung Quốc đã nói rằng Trung Quốc không tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông. Ngay lập tức, dư luận tại nước này nổi cơn tam bành, nhiều cư dân mạng còn kêu gọi lãnh đạo Đảng cầm quyền tiến hành thanh trừng nội bộ, và cho rằng chóp bu đảng đang chứa chấp những kẻ phản bộitham nhũng, chúng bóc lột máu và nước mắt của người dân.
Tokyo làm việc cho Washington?
Nhìn về biển Hoa Đông, tác giả nhận định, sóng gió tranh chấp lãnh hải ở khu vực này còn dữ dội hơn vùng biển Đông (Tác giả dùng tên Biển Hoa Nam). Xích mích giữa Nhật Bản và Trung Quốc không chỉ trên hồ sơ tranh chấp lãnh thổ, mà những hành vi tàn bạo của quân đội Nhật khi chiếm đóng Trung Quốc cũng đã khiến cho sự phẩn nộ của người Trung Quốc càng dữ dội. Thù mới hận cũ đã khiến nhiều người Trung Quốc xuống đường biểu tình bài Nhật, tấn công các cơ sở làm ăn của người Nhật ở Trung Quốc. Về phía Nhật Bản, tác giả cho rằng, nhiều người Nhật cảm thấy bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của Trung Quốc.
Theo tác giả, một bộ phận các quan chức ngoại giao Trung Quốc hiện tại cho rằng, Trung Quốc không cần thiết phải kiêng nể các cường quốc cạnh tranh nữa vì Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trên trận chiến kinh tế, và sắp tới sẽ vượt qua cả Hoa Kỳ. Họ ngày càng chú ý đến quan hệ Trung-Mỹ nhiều hơn là quan hệ Trung-Nhật, bởi vì nhiều quan chức Trung Quốc cho rằng, “Tokyo chỉ còn là một chi nhánh của Washington”, vì thế chính sách đối ngoại của Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách Châu Á của Hoa Kỳ, mà chính sách Châu Á của Hoa Kỳ thì nhắm vào việc cản trở sự lớn mạnh của Trung Quốc.
Tác giả kết luận: sự leo thang của tinh thần dân tộc chủ nghĩa, cuộc chạy đua vũ trang, tình trạng thiếu một thể chế lãnh đạo tầm khu vực và tình trạng bấp bênh của các quá trình chuyển giao quyền lực đã làm tầm trọng hơn nguy cơ xung đột ở những khu vực này.
*****

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc thời Tập Cận Bình

VN Express – 17-11-2012

Thách thức lớn nhất mà lãnh đạo mới của Trung Quốc phải đối mặt là vận dụng chính sách đối ngoại để đảm bảo sự trỗi dậy của quốc gia, trong khi duy trì ổn định và ảnh hưởng của họ trên toàn thế giới.

Kevin Rudd, người từng giữ chức thủ tướng Australia từ năm 2007 tới 2010, ngoại trưởng Australia từ năm 2010 tới 2012, và hiện là chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc cũng như chính sách đối ngoại của nước này, cho rằng sự mạnh lên nhanh chóng của cường quốc số hai thế giới nhiều khả năng sẽ bị tác động bởi những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ của nước này với cộng đồng quốc tế.
Theo ông Rudd, Tập Cận Bình, người vừa nhậm chức tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, dường như được sinh ra để trở thành một nhà lãnh đạo. Rudd dự đoán về chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong một bài viết cho BBC, dưới đây.
Tập Cận Bình lên nắm quyền vào thời điểm Trung Quốc đang nổi lên như một nền kinh tế hàng đầu thế giới. Lần đầu tiên kể từ cuối thế kỷ 18, Trung Quốc, một quốc gia không sử dụng tiếng Anh và không thuộc về phương Tây, sẽ thống trị nền kinh tế thế giới.
Tổng bí thư mới của Trung Quốc có một gia thế hoàn hảo, với danh tiếng của cha ông, cựu phó thủ tướng Tập Trọng Huân, người đi đầu trong phong trào cải cách kinh tế ở Trung Quốc, cùng nhiều năm liền tích lũy kinh nghiệm lãnh đạo và làm kinh tế ở các tỉnh thành lân cận Bắc Kinh. Từ 5 năm trở lại đây, cùng với việc giữ các chức vụ quan trọng trong đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình bắt đầu tích cực tìm hiểu về những vấn đề toàn cầu và quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia toàn trên thế giới, đặc biệt là Mỹ.
Với quan điểm hiện đại hóa Trung Quốc trong khi vẫn duy trì sự ổn định chiến lược ở Đông Á, Tổng bí thư Tập Cận Bình chính là nhà lãnh đạo mà những người làm chính sách ở Mỹ rất muốn được hợp tác cùng.
Màn hình lớn truyền hình trực tiếp về Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc tại thủ đô Bắc Kinh - Ảnh: AFP

Chủ nghĩa dân tộc Đông Á

Lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại cho thấy, quyền lực chính trị luôn luôn xuất phát từ sức mạnh kinh tế, và theo thời gian, chính trị và an ninh quốc tế đã trở thành hai vấn đề luôn được liên kết chặt chẽ với nhau.
Tuy nhiên, sự lớn mạnh của Trung Quốc vẫn sẽ bị ảnh hưởng bởi những thách thức mà nước này và phần còn lại của thế giới phải đối mặt. Các trở ngại này thực chất lại đang đóng vai trò duy trì trật tự thế giới hiện tại, dựa trên sự ổn định chiến lược toàn cầu và đà tăng trưởng kinh tế quốc tế kể từ sau Thế chiến II.
Trật tự thế giới hiện tại phần nào đã thỏa mãn những nỗ lực của chính phủ và nhân dân Trung Quốc sau 30 năm tiến hành cải cách và hiện đại hóa đất nước. Nếu được duy trì trong tương lai, trật tự này vẫn sẽ tiếp tục đáp ứng được những lợi ích của Trung Quốc, bất chấp thực tế rằng nó không được xây dựng dựa trên đóng góp của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, mà là nhờ vào thắng lợi của các quốc gia phương Tây sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin.
Trái với sức mạnh kinh tế nổi trội, tiềm lực quân sự của Trung Quốc vẫn còn khá yếu nếu so sánh với Mỹ. Theo ông Rudd, Mỹ, cường quốc số một thế giới, vẫn sẽ tiếp tục duy trì vị trí độc tôn cho tới giữa thế kỷ 21, và đó là một tầm nhìn chiến lược toàn cầu mà Trung Quốc thực sự phải tính tới.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận một sự thật rằng, tại khu vực Đông Á hay cả một vùng rộng lớn trải dài từ Ấn Độ dương sang Thái Bình Dương, sức ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một mạnh hơn. Từ tầm nhìn chiến lược, cấu trúc lực lượng cho tới học thuyết quân sự của nước này đều hướng tới một mục đích, đó là hỗ trợ “lợi ích cốt lõi” của quốc gia, mà ở đó, Trung Quốc tuyên bố muốn hợp nhất vùng lãnh thổ Đài Loan với đại lục, cũng như khẳng định chủ quyền với các vùng biển Hoa Nam (Việt Nam gọi là Biển Đông) và Hoa Đông.
Thách thức với Trung Quốc là một loạt tranh chấp về vấn đề lãnh thổ với các nước láng giềng. Trong khi đó, Mỹ, với sự chuyển hướng chiến lược từ Trung Đông sang châu Á – Thái Bình dương, vẫn kiên trì với những ý kiến trung lập. Vấn đề tranh chấp tại Biển Đông và quần đảo Điếu Ngư/Senkaku chính là hai đại diện tiêu biểu cho những điểm nóng có thể bùng lên trong tương lai tại khu vực này.
Khác với ở phương Tây, chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề chính trị vẫn đang tồn tại và phát triển khá mạnh ở Đông Á. Bất chấp thực tế về xu hướng hợp nhất các nền kinh tế trong khu vực, những ngọn lửa của chủ nghĩa dân tộc, nếu đặt trong một hoàn cảnh thích hợp, vẫn sẽ dễ dàng bùng lên và biến thành một đám cháy lớn. Đó chính là câu hỏi hóc búa mà các chính phủ phải đau đầu tìm lời giải đáp.
Thách thức lớn mà Trung Quốc cùng các quốc gia trong khu vực phải chung tay giải quyết, đó là xây dựng một nền an ninh tự chủ và có giới hạn. Đây được coi như một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất được đề cập tới trong Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, chương trình nghị sự về chính trị và an ninh mở rộng. Hội nghị này sẽ diễn ra sau loạt hoạt động của ASEAN tại Campuchia bắt đầu từ hôm qua.

Mở rộng thị trường quốc tế

Bên ngoài Đông bán cầu, một câu hỏi thường xuyên được đặt ra, là Trung Quốc sẽ sử dụng ảnh hưởng của mình như thế nào với phần còn lại của thế giới.
Trong giai đoạn trước mắt, mục tiêu tối cao của Trung Quốc là hoàn thành nhiệm vụ hiện đại hóa nền kinh tế, phục vụ cho lợi ích quốc gia và người dân. Tính sống còn của nhiệm vụ này sẽ chỉ đạo chiến lược đối ngoại của Trung Quốc.
Trung Quốc tất nhiên muốn sự ổn định chiến lược toàn cầu bởi các tranh chấp sẽ chỉ làm suy yếu triển vọng tăng trưởng kinh tế của nước này.
Trung Quốc cũng muốn duy trì khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu, thứ đã giúp nước này đạt được những thành tựu kinh tế như hiện nay. Theo thời gian, lãnh đạo Trung Quốc hy vọng rằng, thay vì nhu cầu quốc tế, lĩnh vực tiêu dùng nội địa sẽ giúp họ điều chỉnh sự tăng trưởng kinh tế tốt hơn.
Sự mong manh của nền kinh tế quốc tế, với hai cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ châu Âu, đã mang tới những kinh nghiệm cho Trung Quốc trong việc quản lý đất nước. Hiện nay, dòng chảy thương mại và đầu tư vẫn đóng vai trò rất quan trọng với tương lai trung hạn của nền kinh tế Trung Quốc.
Việc trở thành một cường quốc hàng đầu mang lại cho Trung Quốc những lợi ích chính trị sâu sắc. Sức mạnh kinh tế giúp nước này giữ vai trò quan trọng hơn trong việc ổn định trật tự thế giới.
Với tư cách là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định vị thế lớn mạnh của họ trong vấn đề Syria, khi ba lần cùng Nga sử dụng phiếu phủ quyết để bác bỏ ý định can thiệp quân sự vào quốc gia Trung Đông này. Trung Quốc cũng kiên quyết khi ủng hộ và bảo vệ các chính quyền Damascus, Tehran và Bình Nhưỡng, dựa trên lập trường không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác.
Mặt khác, Trung Quốc cũng đang thể hiện mình là một thành viên tích cực trong cộng đồng quốc tế, khi tham gia vào nhiều tổ chức toàn cầu, từ xã hội, kinh tế, tới nhân đạo và môi trường.
Trung Quốc đang có rất nhiều đóng góp cho các tổ chức gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc trên toàn thế giới. Nước này cũng đã phát triển một chính sách viện trợ toàn cầu mới, không phụ thuộc vào các nguyên tắc được điều hành bởi Ủy ban Hỗ trợ Phát triển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ trở thành một thành viên nổi bật hơn trong lĩnh vực viện trợ ở các quốc gia đang phát triển.

Trung Quốc ở châu Phi



Hai cậu bé Liberia khoe tấm ảnh cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào - Ảnh: Christopher Herwig
Rõ ràng là châu Phi có thể mang lại những lợi ích kinh tế và đối ngoại sâu sắc cho Trung Quốc. Theo ông Rudd, Trung Quốc hiện coi lục địa đen là nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu thô quan trọng, những thứ rất cần thiết cho quá trình tăng trưởng và hiện đại hóa.
Thực tế, dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc vào lục địa đen đang tăng mạnh. Xét trên phương diện tiêu cực, điều này lại đang gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt trong nội bộ các quốc gia ở châu Phi, nơi đã phát sinh căng thẳng liên quan tới sự phát triển quá nhanh chóng của các mỏ khai thác khoáng sản quy mô lớn.
Châu Phi cũng sẽ là một nhân tố quan trọng đối với vị thế của Trung Quốc trong mắt các quốc gia đang phát triển. Hiện ở châu Phi đang nổi lên cuộc tranh luận về "mô hình phát triển của Bắc Kinh", theo đó sự phát triển và thành công về kinh tế thông qua cải cách thị trường có thể đạt được, mà không cần phụ thuộc vào tiến trình tự do hóa về chính trị theo kiểu các nền dân chủ Tây phương.
Do vậy , châu Phi đóng vai trò rất quan trọng đối với Trung Quốc. Và tại mỗi một thủ đô ở châu lục này, cũng như trên toàn châu lục, vai trò của Trung Quốc trong kinh tế và chính trị sẽ luôn được tính đến. Bắc Kinh mới đây đã tài trợ lớn cho việc xây dựng trụ sở của Liên minh châu Phi.
Cuối cùng, lời giải cho câu hỏi: trong thập niên tiếp theo, đâu sẽ là những thay đổi lớn về mặt đối ngoại của Trung Quốc? Revin Rudd cho rằng, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, xét trên bình diện rộng, vẫn sẽ là tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đã đặt ra nêu trên, chứ không có những thay đổi sâu sắc về căn bản.
Quỳnh Hoa (theo BBC)