Thứ Bảy, ngày 01 tháng 12 năm 2012

72. Quan hệ văn hóa Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1993 đến nay

Ths. Ngô Hương Lan
Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đến nay đã trải qua một chặng đường dài 35 năm. Trong thời gian này, với sự nỗ lực của cả hai quốc gia, mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đều đạt được những bước tiến nhất định. Tuy nhiên, có thể nói, mối quan hệ này chỉ thực sự khởi sắc trong vòng 15 năm trở lại đây, khi một số vấn đề quốc tế được giải quyết, Việt Nam đẩy mạnh công cuộc cải cách kinh tế và Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam.
Quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản tuy không diễn ra sôi động như trong lĩnh vực kinh tế, nhưng tầm quan trọng của nó ngày càng được xác định rõ. Có thể thấy, quan hệ văn hóa giữa hai nước hiện nay chủ yếu diễn ra trong các lĩnh vực: Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển các hoạt động văn hóa, giáo dục; Giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước; Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và tiếng Việt Nam tại Nhật Bản; Trao đổi học thuật, phát triển ngành nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam và nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản và cuối cùng là Hoạt động tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.
Bài viết này điểm lại các sự kiện chính trong quan hệ văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1993 đến nay, đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này.
  1. 1. Viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa
Viện trợ văn hóa không hoàn lại của Nhật Bản cho Việt Nam là một trong những chương trình quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ văn hóa giữa hai nước. Được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1983(1), với dự án cung cấp trang thiết bị và đồ dùng dạy tiếng Nhật cho trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, chương trình bị gián đoạn trong khoảng gần một thập kỷ vì những biến động không thuận lợi trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Đến đầu những năm 1990, chương trình được tiếp tục thực hiện hàng năm, với quy mô ngày một lớn. Tính đến nay, đã có trên 30(2) dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô lớn, tiêu biểu là các dự án viện trợ Nhạc cụ cho giàn nhạc giao hưởng, Thiết bị học tiếng Nhật, Thiết bị thể thao, Thiết bị làm phim hoạt hình, Cung cấp chương trình truyền hình cho Đài truyền hình Việt Nam, Thiết bị nhà chiếu hình vũ trụ, Thiết bị bảo tồn âm nhạc, múa truyền thống, Thiết bị bảo tồn thư tịch cổ… Cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình góp phần nâng cao hoạt động văn hóa, giáo dục tại Việt Nam, bên cạnh các “Dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô lớn”, còn có các “Dự án Viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô nhỏ” (trị giá dưới 10 triệu yên, tương đương khoảng 90.000 đô la Mỹ)  được thực hiện khoảng vài dự án trong một năm, do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam trực tiếp tiến hành. Đối tượng của các dự án viện trợ này là chính quyền các địa phương, cơ quan học thuật, nghiên cứu, cơ quan văn hóa, cơ quan giáo dục bậc đại học và sau đại học, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phổ cập giáo dục bậc đại học và sau đại học… Các viện trợ chủ yếu là cung cấp các thiết bị sử dụng trực tiếp cho hoạt động văn hóa, hoạt động giáo dục đại học và sau đại học như các thiết bị học ngoại ngữ, nhạc cụ, phần mềm chương trình, thiết bị âm thanh, ánh sáng, thiết bị nghe nhìn, thiết bị liên quan đến bảo tồn di tích… Các dự án xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường tiểu học Việt Nam cũng nằm trong khuôn khổ chương trình này. Có thể kể tên một số dự án viện trợ văn hóa không hoàn lại tiêu biểu như: Năm 1992, viện trợ thiết bị bảo quản tư liệu cho Viện Hán Nôm; Năm 1993, mua sắm thiết bị dạy tiếng Nhật trị giá 45,1 triệu yên cho trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay đổi tên thành Đại học Hà Nội); Năm 1996 cung cấp 500 triệu yên cho Nhạc viện Hà Nội và 450 triệu yên cho Nhạc viện TP HCM trong dự án phát triển lĩnh vực âm nhạc; Năm 2003 hỗ trợ cho Bảo tàng dân tộc học Việt Nam trên 64 ngàn USD trong “Dự án ghi âm ghi hình di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số Việt Nam”; Năm 2005 ký quyết định viện trợ cho Đài truyền hình Việt Nam với mức 200 ngàn USD nhằm cung cấp cho Đài truyền hình phần mềm của hàng trăm chương trình phim tài liệu giới thiệu về xã hội hiện đại và khoa học kỹ thuật của Nhật Bản, các chương trình giáo dục khoa học, toán học, khoa học tự nhiên của Nhật Bản; Năm 2008 mới đây, ký kết viện trợ 67 ngàn USD cho Đại học Sư phạm TP HCM nhằm trang bị phòng nghe nhìn đa phương tiện phục vụ cho khóa học tiếng Nhật hệ chính quy đầu tiên sẽ được tổ chức trong kỳ tuyển sinh năm nay. Ngoài ra, trong 5 năm (1994-1999), Chính phủ Nhật Bản đã viện trợ 9,5 tỉ yên (tương đương khoảng gần 950 ngàn USD) để xây dựng 195 trường tiểu học ở các tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai, và từ năm 2001 trở đi, mỗi năm viện trợ cho hàng chục trường tiểu học Việt Nam nâng cấp và xây mới cơ sở vật chất của trường, mỗi dự án có giá trị trung bình từ 80 ngàn đến 90 ngàn USD(3).
Cuối cùng, việc bảo tồn, trùng tu tài sản văn hóa hữu hình - vô hình tại Việt Nam cũng là một trong những lĩnh vực được phía Nhật Bản quan tâm hợp tác, tài trợ. Cho đến nay, các dự án quan trọng đã được thực hiện là: (1) Trùng tu Cung điện Huế (Ngọ Môn), (2) Hỗ trợ bảo tồn Nhã nhạc Việt Nam, (3) Hỗ trợ một phần trùng tu Cầu Nhật Bản tại Hội An, (4) Hỗ trợ Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, (5) Cử chuyên gia bảo tồn thư tịch cổ, (6) Hoàn thiện môi trường bảo tồn di tích Mỹ Sơn, (7) Hỗ trợ thiết bị bảo tồn Di tích Hoàng thành Thăng Long.
  1. 2. Giao lưu văn hóa, nghệ thuật
Giao lưu văn hóa, nghệ thuật là hoạt động nổi bật nhất trong quan hệ văn hóa giữa hai nước những năm gần đây. Kể từ đầu thập niên 1990, khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản được hâm nóng lại thì hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa hai nước càng phát triển hơn bao giờ hết. Năm 1991, lần đầu tiên sau 20 năm bị gián đoạn, phía Nhật Bản đã đưa một đoàn ca múa hiện đại sang biểu diễn tại Việt Nam trong chuyến đi 10 ngày. Tháng 9 cùng năm, phái đoàn gồm 76 người của Hội giao lưu văn hóa Nhật - Việt đã sang ký kết hợp tác với Cục hợp tác Quốc tế - Bộ Văn hóa Việt Nam. Năm 1992 - 1993, nhiều đoàn nghệ thuật Nhật Bản sang Việt Nam trình diễn các bộ môn văn hóa truyền thống như cắm hoa, thả diều… Phía Việt Nam cũng hợp tác với các nghệ sĩ Nhật Bản nhằm giới thiệu nghệ thuật múa rối nước cổ truyền của dân tộc. Năm 1994, Đoàn nghệ nhân biểu diễn trà đạo gồm 35 người của trường phái Chado Urasenke Nhật Bản đã sang Việt Nam biểu diễn. Cũng trong những năm này, nhà xuất bản tranh truyện thiếu nhi hàng đầu Nhật Bản Doshinsha đã hợp tác với Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu với độc giả nhỏ tuổi Việt Nam bộ truyện tranh manga nổi tiếng “Doremon”. Nhà xuất bản này cũng kết hợp với Cung thiếu nhi Hà Nội, Nhà văn hóa Hải Phòng và một số trường mẫu giáo thuộc các tỉnh phía Bắc giới thiệu bộ môn nghệ thuật Kamishibai (kịch giấy) Nhật Bản trong giáo dục mầm non. Như vậy, có thể nói, đầu những năm 1990, hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật diễn ra khá sôi nổi, tuy còn mang tính một chiều, phần lớn là các bộ môn văn hóa, nghệ thuật Nhật Bản được giới thiệu cho người Việt Nam. Việc giới thiệu văn hóa Việt Nam cho người Nhật Bản mới chỉ bó hẹp trong những chuyến công du ngắn hạn của các nhà văn hóa - nghệ thuật Việt Nam khi tham gia một số hoạt động văn hóa quốc tế tại Nhật Bản như: Liên hoan âm nhạc (1989), Liên hoan phim Tokyo (1989.1991, 1992), Biểu diễn đàn bầu Việt Nam (1992, 1993), Triển lãm sách quốc tế tại Tokyo (1992, 1994)… và hầu hết các hoạt động này được phía Nhật Bản đài thọ.
Sau năm 1993 - năm Kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, các hoạt động giới thiệu văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản diễn ra sôi nổi, đã có những buổi biểu diễn lớn, những cuộc triển lãm, hội thảo… về văn hóa Việt Nam được người Nhật Bản đón nhận. Năm 1994, sau khi UNESCO tổ chức buổi tọa đàm quốc tế về phát huy di sản văn hóa phi vật thể vùng Huế, Nhật Bản đã đưa ra sang kiến và tài trợ cho Kế hoạch phục hồi âm nhạc cung đình Việt Nam, đặc biệt là Nhã nhạc. Năm 1995, nhận lời mời của phía Nhật Bản, giáo sư Hà Văn Cầu và một số nhà nghiên cứu Nghệ thuật Chèo, cùng Đoàn chèo Thái Bình đã sang biểu diễn 4 đêm tại sân khấu Tokyo. Cũng trong đợt biểu diễn này, Hội thảo khoa học về Chèo đã được tổ chức tại Nhật Bản, thu hút sự tham gia của hơn 200 nhà nghiên cứu người Nhật. Năm 1998, Công ty may Ngân An lên đường sang Nhật Bản tham dự Triển lãm hàng thủ công châu Á, giới thiệu với nhân dân Nhật Bản bộ trang phục truyền thống “áo dài” của phụ nữ Việt Nam.
Từ năm 2000 trở đi đánh dấu một bước tiến lớn trong quan hệ văn hóa giữa hai nước, khi các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật song phương nở rộ. Năm 2001, Festival Văn hóa - Du lịch Việt Nam được tổ chức tại nhiều thành phố của Nhật Bản, thu hút sự chú ý của người dân nước này. Năm 2002, để đáp lễ, Nhật Bản gửi Đoàn nghệ thuật Kuna Uka tham dự biểu diễn tại Festival Huế, bên cạnh các đoàn nghệ thuật của Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia…
Năm 2003, nhân kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Nhật và năm giao lưu ASEAN - Nhật Bản, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản lần đầu tiên được tổ chức tại Hội An với sự tham gia của hàng ngàn người dân. Cuối năm 2003, buổi trình diễn thời trang lớn chưa từng có của Việt Nam tại Nhật Bản - “Cuộc hiến dâng ở đền thiêng” diễn ra tại ngôi đền cổ Kyomizu - Kyoto, đã giới thiệu với hàng trăm vị khách tiếng tăm Nhật Bản và hàng ngàn du khách quốc tế 60 bộ trang phục áo dài, kết hợp vẻ đẹp văn hóa Việt Nam và văn hóa Nhật Bản.
Năm 2004, đoàn Nghệ thuật dân gian Nhật Bản tham dự Liên hoan văn hóa nghệ thuật dân gian Việt Nam tổ chức tại TP.HCM. Cũng trong năm này, một đoàn làm phim của hãng truyền hình Asahi Nhật Bản đã đến Việt Nam trong vòng 1 tháng, từ 18-4 đến 18-5-2004 để thực hiện bộ phim truyền hình dài 10 tập (tổng cộng 300 phút) mang tên “Việt Nam mến yêu”. Đây là bộ phim truyền hình dài hơi nhất của Nhật quay tại Việt Nam, “khám phá những nét hấp dẫn của thiên nhiên, phong cảnh, sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời, sức hấp dẫn của nền ẩm thực cùng sự hồn nhiên, đôn hậu, thân thiện của người Việt”(4).
Năm 2005, chính phủ Nhật Bản cử Phái đoàn giao lưu văn hóa đến Hà Nội và TP.HCM. Chuyến viếng thăm của Phái đoàn lần này được thực hiện dựa trên đề xuất của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Phan Văn Khải vào cuối năm 2004 tại Hà Nội, trên quan điểm phát triển sâu rộng mối quan hệ giữa hai nước vốn trước đây chỉ tập trung vào quan hệ kinh tế, trong khi tại Việt Nam sự quan tâm đến Nhật Bản ngày càng cao. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam, Phái đoàn đã soạn thảo và trình Chính phủ hai nước Bản kiến nghị mang tính trung và dài hạn về các vấn đề và phương sách trong giao lưu Nhật - Việt.
Năm 2006 được coi là Năm xúc tiến giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản với sự kiện Festival Nhật Bản 2006 được tổ chức tại Hà Nội và TP.HCM với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Phía Nhật Bản có tới 800 người tham gia trong các chương trình Giao lưu thể thao, Giao lưu văn hóa -nghệ thuật, Giao lưu nhạc nhẹ và Giao lưu kinh tế. Năm 2007, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được tổ chức tại Hội An với các màn trình diễn nghệ thuật cổ truyền, thời trang, nghệ thuật trà đạo, nghệ thuật ẩm thực…
Năm nay, năm 2008 - kỷ niệm 35 năm Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, sẽ là năm diễn ra nhiều hoạt động giao lưu văn hóa quan trọng để chào mừng sự kiện này. Trước hết phải kể đến Diễn đàn giao lưu văn hóa Nhật - Việt vừa được tổ chức vào ngày 11 và 12-3-2008. Diễn đàn gồm 2 buổi “Tọa đàm nhân dân” tổ chức tại Hà Nội và TP.HCM, với sự tham gia của đông đảo giới tri thức hai nước, thuộc các lĩnh vực: đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn di sản văn hóa, giao lưu tri thức, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Vấn đề xúc tiến hơn nữa giao lưu văn hóa Nhật - Việt là chủ đề chính được thảo luận tại diễn đàn.
Một sự kiện được coi là “điểm đột phá” trong quan hệ văn hóa hai nước là Đại nhạc hội Việt - Nhật vừa được tổ chức hồi tháng 5 năm nay tại Hà Nội và TP.HCM. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ song phương kéo dài hơn ba thập kỷ, hai nước cùng tổ chức một chương trình âm nhạc tại Việt Nam với sự tham dự của nhiều ca sĩ Nhật, và cũng là lần đầu tiên ca sĩ Việt Nam được giới thiệu tới công chúng Nhật Bản. Sự kiện không bó hẹp trong ý nghĩa một chương trình nghệ thuật, mà nhiều hơn, là sự kiện chính trị, ngoại giao, điểm dấu mốc đặc biệt của chặng đường quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Dự kiến Festival Việt Nam 2008 sẽ được tổ chức tại Nhật Bản với quy mô lớn chưa từng có vào trung tuần tháng 8-2008, với tư cách là một Chương trình hành động quốc gia của Nhật Bản trong năm nay. Về phía Việt Nam, Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản vẫn tiếp tục được tổ chức tại thành phố Hội An vào cuối năm nay, dự kiến sẽ thu hút khoảng 15.000 lượt người tham dự. Tính từ khi Lễ hội giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003, đến nay đã có gần 100 hoạt động tổ chức ở hai nước, trong đó có khoảng 90 hoạt động song phương. Có thể nói, các sự kiện giao lưu văn hóa giữa hai nước trong những năm gần đây là phương tiện tốt nhất để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, góp phần xây dựng mối quan hệ “từ trái tim đến trái tim”.
  1. 3. Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam và đào tạo tiếng Việt Nam tại Nhật Bản
Đào tạo tiếng Nhật Bản tại Việt Nam được thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 1970 tại trường Đại học Ngoại thương và Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội). Tuy nhiên, trong suốt thập niên 1980, việc giảng dạy tiếng Nhật bị đình trệ do quan hệ hai nước không phát triển. Phải đến đầu những năm 1990, việc giảng dạy tiếng Nhật mới được thực hiện trở lại, và phát triển mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua. Theo số liệu thống kê của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản, vào năm 1998, có khoảng 10.000 người Việt Nam học tiếng Nhật tại 30 cơ sở đào tạo công và tư trên toàn quốc với số giáo viên giảng dạy chỉ vẻn vẹn 300 người(5), kể cả giáo viên người Nhật sang tình nguyện giảng dạy. Sau 10 năm, vào năm 2007, số học viên đã tăng lên 30.000 người, số cơ sở đào tạo là gần 100 trường với khoảng trên 1000 giáo viên(6), đưa Việt Nam trở thành nước có số người học tiếng Nhật đứng thứ 8 trên Thế giới.
Đào tạo tiếng Nhật tuy là một ngành mới, song trong hơn 10 năm phát triển, đã đạt những bước tiến đáng kinh ngạc. Nếu như vào đầu những năm 1990, chương trình dạy tiếng Nhật còn lạc hậu với những bộ sách giáo khoa được biên soạn từ năm 1970, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, phương pháp giảng dạy ảnh hưởng nặng nề của nền giáo dục Nga và Trung Quốc, chỉ chú trọng đến dạy ngữ pháp… thì vài năm gần đây, tiếng Nhật đã trở thành bộ môn ngoại ngữ được cung cấp những phương tiện giảng dạy tiên tiến nhất, đội ngũ giáo viên có trình độ cao, hầu hết đều được tu nghiệp ngắn hạn hoặc dài hạn tại Nhật theo chương trình tài trợ của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản. Giáo trình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và được cập nhật liên tục. Đội ngũ giáo viên tu nghiệp tại Nhật Bản trở về đã sử dụng các phương pháp giảng dạy mới, chú trọng đến mục đích nâng cao khả năng giao tiếp để học viên có thể nhanh chóng sử dụng vốn kiến thức đã học vào giao tiếp thực tiễn. Một chuyên gia Nhật Bản có kinh nghiệm công tác lâu năm ở Việt Nam đã nhận xét: “Giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam đang bước từ giai đoạn một - giai đoạn tiếng Nhật được giảng dạy chủ yếu tại các trường đại học và các trung tâm tiếng Nhật tư nhân tại các thành phố lớn sang giai đoạn hai - giai đoạn mở rộng về đối tượng học viên (mở rộng đào tạo tiếng Nhật ở cấp giáo dục phổ thông) và mở rộng về phạm vi địa lý, có thêm nhiều cơ sở giảng dạy tại các địa phương”(7). Thành quả này đạt được là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhật Bản về vốn, trang thiết bị giảng dạy, sách vở, giáo viên…, nhưng cũng không thể phủ nhận sự chuyển biến tích cực từ phía các nhà tạo lập chính sách của Việt Nam với việc chủ chương đưa tiếng Nhật vào giảng dạy thử nghiệm ở cấp THCS và THPT. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt trong quan hệ hai nước đã tạo ra nhu cầu của “thị trường” đối với ngành tiếng Nhật.
Khác với ngành tiếng Nhật ở Việt Nam, đào tạo tiếng Việt tại Nhật Bản chưa phải là một ngành phát triển. Mặc dù có lịch sử lâu dài hơn, được bắt đầu từ những năm 1960 do một số nhà nghiên cứu Việt Nam học học mở lớp dạy tiếng Việt tại trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo và trường Đại học Keio, nhưng việc giảng dạy tiếng Việt mới chỉ được mở rộng trong thập kỷ 1990. Từ con số vài nhà nghiên cứu Việt Nam học biết tiếng Việt, đến nay, cùng với sự phát triển ngành Việt Nam học tại Nhật Bản, số nhà nghiên cứu sử dụng được tiếng Việt đã tăng tới hàng trăm, và con số cơ sở đào tạo tiếng Việt cũng đã lên tới hàng hai chữ số(8). Riêng trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo, chuyên ngành tiếng Việt đã đào tạo được khoảng trên 300 người(9), phục vụ tại các ngành nghề khác nhau như: ngành giáo dục, ngành báo chí, ngành ngoại giao, Đài truyền hình… Hiện nay, cùng với sự phát triển giao lưu văn hóa, đặc biệt là du lịch giữa hai nước, học tiếng Việt đang trở thành trào lưu trong một bộ phận giới trẻ Nhật Bản. Các cơ sở dạy tiếng Việt được mở rộng, không chỉ ở các trường Đại học, mà tại các Trung tâm ngoại ngữ tư thục, Hội hữu nghị Nhật - Việt ở các địa phương… các lớp tiếng Việt được mở thường xuyên. Số sinh viên Nhật Bản đến Việt Nam du học hiện nay giữ vị trí số một, cùng với sinh viên Hàn Quốc.
  1. 4. Trao đổi học thuật, nghiên cứu Nhật Bản học và Việt Nam học
Sự phát triển của ngành Nhật Bản học tại Việt Nam và Việt Nam học tại Nhật Bản trong những năm gần đây là bằng chứng khẳng định mối quan hệ hai nước đã đi vào chiều sâu. Năm 1993, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản được thành lập trong Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) như một cơ quan chuyên trách nghiên cứu về Nhật Bản, được coi là bước khởi đầu của quá trình này. Cùng năm, ngành Ngôn ngữ - văn hóa Nhật Bản (tiền thân của Khoa Đông Phương sau này) được mở tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hai năm sau đó, năm 1995, Khoa Đông Phương, trong đó có chuyên ngành Nhật Bản học chính thức được thành lập tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội và TP.HCM. Cùng với việc mở chuyên ngành Nhật Bản học tại các trường đại học lớn, các trường đại học tư thục cũng mở khoa đào tạo tiếng Nhật, khiến cho hoạt động nghiên cứu Nhật Bản trở nên vô cùng sôi nổi trong giai đoạn này. Ngoài các cơ quan kể trên, nghiên cứu Nhật Bản còn được thực hiện tại một số đơn vị khác như Khoa Sử của trường Đại học KHXH & NV, bộ phận nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản của Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, Viện Sử học, Trường Đại học Ngoại thương, và các đơn vị nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Nội Vụ, Ban Đối ngoại Trung ương… Mặc dù nghiên cứu Nhật Bản tại các đơn vị này được tiến hành khá sớm, từ những năm 50-60, song chưa mang tính tổng hợp và chuyên sâu.
Theo kết quả cuộc điều tra Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản thực hiện năm 1996, có khoảng 95(10) nhà nghiên cứu Nhật Bản học ở Việt Nam, thuộc các lĩnh vực như lịch sử, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ và quan hệ quốc tế. Phần nhiều họ thuộc thế hệ trung niên, và do điều kiện khách quan của Việt Nam trong giai đoạn đó, rất ít người biết tiếng Nhật.
Hiện nay, con số những người nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam đã lên tới hàng trăm người, làm việc tại hàng chục cơ quan nghiên cứu và đào tạo trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Một số cơ sở nghiên cứu mới như Đại học Thái Nguyên, Đại học sư phạm Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản thuộc Khoa Đông phương Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM, Đại học khoa học Huế, Cao đẳng sư phạm Kontum, Cao đẳng sư phạm Vũng Tàu, Đại học Cần Thơ… Một nét mới là số cán bộ nghiên cứu Nhật Bản học tại các trường đại học và các cơ quan giảng dạy đang tăng lên. Hầu hết các cán bộ trẻ được đào tạo tại Nhật Bản về, có khả năng sử dụng tốt tiếng Nhật. Tuy nhiên, tại các cơ quan nghiên cứu, đội ngũ trung niên vẫn chiếm tỉ lệ lớn, và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ kế cận đang là vấn đề được quan tâm. Hiện nay, mỗi năm Chính phủ Nhật Bản dành khoảng một trăm suất học bổng du học tại Nhật cho sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay là khoảng 1.500 người. Có thể nói, đây là sự giúp đỡ quý báu để bồi dưỡng nhân tài cho ngành nghiên cứu Nhật Bản học tại Việt Nam.
So với ngành Nhật Bản học tại Việt Nam, nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản có bề dày lịch sử khá lâu, được bắt đầu ngay từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tuy vậy, phải đến cuối những năm 1970 nó mới trở thành một ngành khoa học độc lập, tách khỏi ngành Sử học Phương Đông. Đầu thập niên 1990, ngành Việt Nam học tại Nhật Bản thực sự phát triển, nhờ quan hệ hai nước có bước tiến triển tốt đẹp. Việc sang Việt Nam du học trở nên dễ dàng hơn, nhiều nhà nghiên cứu đã có bề dày kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam, có điều kiện để thâm nhập vào thực tế xã hội, là cơ sở để họ cho ra đời những ấn phẩm về Việt Nam ngày một phong phú. Hiện nay, con số nhà nghiên cứu tham gia vào Hội nghiên cứu Việt Nam học ở Nhật Bản đã lên tới trên một trăm người, và số công trình nghiên cứu về Việt Nam được xuất bản cũng lên tới hàng trăm cuốn sách. Từ năm 1990 trở lại đây, nhiều cuộc hội thảo quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu tập thể với sự tham gia của học giả hai nước đã khiến cho sự giao lưu học thuật giữa hai nước ngày càng trở nên sôi nổi.
  1. 5. Xúc tiến hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước
Nhận thấy việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước là nền tảng cho mọi quan hệ song phương chặt chẽ hơn, chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã nỗ lực thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau thông qua giao lưu trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, du lịch, thể thao. Cụ thể là, hai nước đang triển khai các chương trình đào tạo con người, chương trình thanh niên ASEAN (100 người/năm), trao đổi các đoàn văn hóa, tình nguyện viên, chuyên gia… Tháng 6/2008, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đã tới Nhật Bản trong chương trình giao lưu giữa thế hệ trẻ Nhật Bản với Thế hệ trẻ Đông Nam Á. Thanh niên Việt Nam đã có dịp tham quan thành phố Tokyo và một số tỉnh thành, tới thăm các trường học, giao lưu gặp gỡ với sinh viên và người dân địa phương Nhật Bản. Chương trình là một trong các hoạt động của JENESYS – Chương trình giao lưu thế hệ trẻ các nước Đông Nam Á được bắt đầu vào năm 2008 và sẽ kéo dài trong 5 năm. Kết thúc mỗi đợt, chương trình lại tiếp tục mời 6.000 thanh niên và sinh viên các nước Đông Nam Á sang thăm Nhật Bản.
Một sự kiện quan trọng khác là sự ra đời của Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản của Quỹ Giao lưu quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam vào tháng 3/2008. Sự kiến đánh dấu mốc quan trọng trong chặng đường lịch sử quan hệ giữa hai nước, nó không chỉ góp phần củng cố sự hợp tác về kinh tế, chính trị giữa hai nước mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị, tin cậy và hiểu biết sâu sắc giữa nhân dân hai nước thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa. Trung tâm tổ chức các hoạt động như: Giao lưu văn hóa nghệ thuật (tổ chức biểu diễn ca nhạc, mời các nhà hoạt động văn hóa của Việt Nam sang thăm Nhật Bản, tổ chức liên hoan phim Nhật Bản tại Việt Nam, hỗ trợ các nhà xuất bản Việt Nam xuất bản các tác phẩm của Nhật Bản…); Hoạt động giảng dạy tiếng Nhật (biên soạn sách giáo khoa, tổ chức và hỗ trợ các hội thảo dành cho giáo viên, hỗ trợ giảng dạy tiếng Nhật cấp THCS, cử các chuyên gia giảng dạy tiếng Nhật sang Việt Nam…); Nghiên cứu Nhật Bản và giao lưu trí tuệ (hỗ trợ các cơ quan đang nghiên cứu về Nhật Bản, hỗ trợ thành lập Hội nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản, cung cấp học bổng cho các nhà nghiên cứu Nhật Bản học, tổ chức hội thảo về Nhật Bản học…). Với sự cống hiến tích cực của Trung tâm văn hóa Nhật Bản, chắc chắn một “cây văn hóa Nhật Bản”(11) sẽ được vun trồng và mãi xanh tươi trên đất Việt Nam.
  1. 6. Kết luận và một số kiến nghị
Có thể nói, giai đoạn từ năm 1993 đến nay là giai đoạn sôi nổi nhất, gặt hái được nhiều thành công nhất trong chặng đường quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản. Điều này có được là nhờ các điều kiện khách quan thuận lợi trong quan hệ giữa hai nước, sự ổn định của môi trường quốc tế trong vòng một thập kỷ rưỡi trở lại đây. Nhưng, cũng không thể phủ nhận vai trò tích cực từ phía chính phủ hai nước khi ý thức được tầm quan trọng của việc giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau có giá trị như thế nào đối với việc phát triển quan hệ trong các lĩnh vực khác. Chính phủ Nhật Bản hàng năm đã dành nguồn tài trợ lớn cho các hoạt động giao lưu, hợp tác về văn hóa với Việt Nam. Về phía Việt Nam, chính sách mở cửa, hội nhập của Đảng và Nhà nước ta cũng tạo môi trường thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi và giao lưu văn hóa với Nhật Bản. Chính phủ hai nước đã khẳng định muốn xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực, để trở thành “đối tác đặc biệt”, “đối tác bền vững” của nhau trong thời gian tới. Năm 2006, Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản một lần nữa nhấn mạnh quyết tâm tăng cường và thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương với tư cách là “đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”.
Hai nước đang trong giai đoạn hợp tác tốt nhất trong lịch sử quan hệ 35 năm qua. Chưa bao giờ, quan hệ văn hóa được chú trọng và đề cao như lúc này. Cuộc viếng thăm của Phái đoàn giao lưu văn hóa Nhật Bản tới Việt Nam năm 2005 sau chín năm gián đoạn - kể từ năm 1996, và Diễn đàn giao lưu văn hóa Nhật Việt được thực hiện hồi tháng 5/2008 vừa qua chính là bằng chứng sinh động khẳng định chiều sâu của mối quan hệ này. Lần đầu tiên trong lịch sử, hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa giữa hai nước được xem xét và xây dựng một cách có chiến lược. Phái đoàn giao lưu văn hóa đã đề xuất: “Nhằm xúc tiến giao lưu văn hóa Nhật - Việt dựa trên sự hợp tác của chính phủ và các ban ngành liên quan, nên thành lập Hội đồng cấp cao giữa hai nước gồm đại diện của chính phủ và tư nhân để xem xét một cách toàn diện các vấn đề và phương sách trong giao lưu Nhật - Việt”(12). Tháng 3/2008, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản được khai trương tại Hà Nội với tư cách là một cơ sở trợ giúp cho các hoạt động giao lưu và hợp tác văn hóa giữa hai nước, lại một lần nữa khẳng định quyết tâm của phía chính phủ Nhật Bản trong việc thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ văn hóa với Việt Nam.
Tuy nhiên, về phía chúng ta, dường như còn thiếu sự chủ động trong việc xây dựng một chiến lược phát triển quan hệ văn hóa dài hơi với nước bạn. Rõ ràng rằng, giao lưu văn hóa cần sự tham gia của cả hai phía. Cho đến nay, các hoạt động giao lưu văn hóa được thực hiện phần lớn nhờ sự tài trợ của phía bạn. Thời gian gần đây, văn hóa Nhật Bản như âm nhạc, phim ảnh, văn học… du nhập vào Việt Nam khá mạnh mẽ và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa nước ta, nhưng văn hóa Việt Nam lại chưa được giới thiệu nhiều tới nhân dân Nhật Bản. Thiết nghĩ, chúng ta cần có những chính sách cụ thể và sự tài trợ về mặt kinh phí từ Nhà nước để thực hiện một cách có kế hoạch, có hiệu quả hoạt động giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè Nhật Bản. Có lẽ, các cuộc triển lãm về văn hóa truyền thống (sản phẩm thủ công truyền thống, nghệ thuật biểu diễn truyền thống…), festival văn hóa, cử các đoàn nghệ thuật sang biểu diễn tại nước bạn, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa - đất nước - con người Việt Nam tại Nhật, các cuộc hội thảo quốc tế về văn hóa Việt Nam… sẽ là những phương tiện tốt để truyền bá văn hóa nước ta tới nhân dân Nhật Bản.
Bên cạnh đó, ngoài kênh của chính phủ, chúng ta cũng cần thu hút sự quan tâm của các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, công ty… trong việc thực hiện trao đổi, giao lưu, hợp tác văn hóa. Thực ra, chính những đơn vị nhỏ này là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp. Ví dụ, nếu các công ty, xí nghiệp Nhật Bản trước khi tuyển tu nghiệp sinh Việt Nam có tổ chức các khóa học tiếng Nhật và giới thiệu về văn hóa, tập quán sinh hoạt của người Nhật Bản, thì những người này sẽ không bị bỡ ngỡ khi bước chân vào môi trường làm việc tại Nhật Bản. Hoặc, công việc này cũng có thể thực hiện bởi các công ty Việt Nam làm công việc môi giới, giới thiệu tu nghiệp sinh, thực tập sinh sang Nhật.
Và cuối cùng, cần chú trọng tới việc đào tạo tiếng Nhật cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người Nhật Bản, đồng thời tăng cường hoạt động nghiên cứu Nhật Bản học và Việt Nam học. Nhật Bản đã làm tốt việc truyền bá ngôn ngữ của họ ra Thế giới. Việt Nam cũng nên học tập họ trong việc phát triển giảng dạy tiếng Việt bằng các hình thức như cử giáo viên sang giảng dạy tại các cơ sở đào tạo của nước bạn, cung cấp các chương trình học bổng học tiếng Việt tại Việt Nam cho sinh viên Nhật Bản… Đối với hoạt động nghiên cứu, cần tăng cường các chương trình nghiên cứu tập thể cho học giả hai nước cũng như đẩy mạnh xã hội hóa các thành quả nghiên cứu. Hy vọng tới đây, quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ phát triển xứng tầm nó đáng phải có trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.

(Bài đăng lại từ Website NCNB cũ).

Tài liệu tham khảo chính:
1. Dương Phú Hiệp - Ngô Xuân Bình - Trần Anh Phương (đồng chủ biên). 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973-1998. NXB. Khoa học xã hội, 1999.
2. Ngô Xuân Bình - Trần Quang Minh (chủ biên). Quan hệ Việt Nam Nhật Bản quá khứ, hiện tại, tương lai. NXB. Khoa học xã hội, 2005.
3. Kimura Hiroshi - Furuta Motoo - Nguyễn Duy Dũng (chủ biên). Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản. NXB. Thống kê, 2005.
4. Shibahara Tomoyo: “Đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003.
5. Ngô Hồng Diệp: “Về sự hợp tác văn hóa Nhật Bản – ASEAN từ những năm 1970 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 12/2007.
6. Lưu Thu Thủy: “Học tiếng Việt tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 3/2008.
7. Báo cáo của Trung tâm Hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam năm 2007.
8. Trang web. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam: http://www.vn.emb-japan.go.jp
9. Trang web: http://www.jpf.org.vn
10.   “Giao lưu văn hóa Việt-Nhật và sự quan tâm của người Nhật với văn hóa Việt Nam”. Trang web: http://www.thuvien-ebook.com/forums/


(1) Trần Mạnh Cát: “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây”, 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973-1998. NXB. Khoa học xã hội, 1999.
(2) Nguồn: Trang web. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam http://www.vn.emb-japan.go.jp
(3) Phạm Hồng Thái: “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản qua những chặng đường văn hóa”, Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản quá khứ, hiện tại, tương lai. NXB. Khoa học xã hội, 2005.
(4) Nguồn: “Giao lưu văn hóa Việt-Nhật và sự quan tâm của người Nhật với văn hóa Việt Nam”. Trang web:
http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=8767
(5) Shibahara Tomoyo: “Đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và triển vọng”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2003.
(6) Nguồn: Báo cáo của Trung tâm Hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản (VJCC) về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam năm 2007.
(7) Shibahara Tomoyo, đã dẫn.
(8) Furuta Motoo: “Vài nét về tình hình nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản”, Những bài học về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, Kimura Hiroshi, Furuta Motoo, Nguyễn Duy Dũng, 2005.
(9) Lưu Thu Thủy: “Học tiếng Việt tại Nhật Bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 3/2008.
(10) Dương Phú Hiệp: “Nhật Bản học ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra hiện nay”, 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, đã dẫn.
(11) Trích “Lời chào của Giám đốc Trung tâm văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam”. Website: http://www.jpf.org.vn
(12) Thông tin về Phái đoàn Giao lưu văn hóa 2005: http://www.hcmcgj.vn.emb-japan.go.jp/vn/pro2005/may.htm