Thứ Bảy, ngày 01 tháng 12 năm 2012

74. Biến đổi khí hậu đe dọa Nhật Bản hiện tại và tương lai

Ngày nay, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến Nhật Bản trong nhiều lĩnh vực rộng lớn. Báo cáo này nhằm tổng hợp thông tin khoa học hiện có về ảnh hưởng nghiêm trọng của khí hậu, cho thấy những thách thức lớn trước khi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh G8 trong năm nay, hội nghị của 8 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Nội dung báo cáo này bao hàm những thay đổi cụ thể ở Hokkaido, một tỉnh của Nhật Bản, nơi Hội nghị thượng đỉnh G8 sẽ diễn ra sắp tới. Những tác động quan sát và tác động dự báo đều được nêu bật nhằm cho thấy Nhật Bản đã thay đổi như thế nào, và những gì mà tương lai Nhật Bản sẽ có thể phải trải qua. Trong đó, đặc biệt chú ý đến những thay đổi đáng kể về kinh tế , xã hội và văn hóa.
Ví dụ, mỗi năm Nhật Bản đều chú ý đến sự ra hoa của cây anh đào và mỗi năm loài cây này lại nở hoa sớm hơn trong mùa do hậu quả của biến đổi khí hậu. Trong khi, sự thay đổi này có thể không ảnh hưởng đến phúc lợi kinh tế của cá nhân người Nhật Bản, thì nó lại tác động đến di sản văn hóa của họ, và là một ví dụ tượng trưng cho một xu hướng lớn hơn mang lại mối đe dọa lớn đối với con người và thiên nhiên ở Nhật Bản - từ những loài quý hiếm cho đến hệ sinh thái quý giá, và từ nghề nghiệp của công dân cho đến tổng thể nền kinh tế của đất nước hoa anh đào này.
Hokkaido là hòn đảo ở cực bắc trong số bốn hòn đảo chính của Nhật Bản và mở rộng từ 41° đến 46 ° vĩ độ Bắc. Hòn đảo này, diện tích 77.978 km2, lớn thứ hai tại Nhật Bản (Dolan và Warden, 1994). Nó được tách ra từ Sakhalin, Nga, bởi eo biển Soya và tách ra từ đảo Honshu bởi eo biển Tsugaru. Khí hậu của Hokkaido là cận Bắc cực (sub-arctic), với nhiệt độ trung bình hàng năm là 8 °C và lượng mưa trung bình hàng năm là 1.150 mm. Tại Asahikawa, trung tâm Hokkaido, nhiệt độ trung bình vào tháng 1, tháng lạnh nhất, là -9 ° C, nhiệt độ trung bình vào tháng 8, tháng nóng nhất, là  21°C, nhưng do biến đổi khí hậu, những thống kê này có thể sẽ sớm thay đổi.
Hokkaido có diện tích bên trong gồ ghề với những ngọn núi lửa phân tán rải rác cùng với các vùng đất thấp màu mỡ có chứa các hồ, đầm lầy và vùng đất ngập nước, làm cho nơi đây trở thành khu vực nông nghiệp hàng đầu của Nhật Bản. Trong thực tế, Hokkaido chiếm 90% diện tích đồng cỏ của Nhật Bản và sản xuất 90% sản phẩm bơ sữa của đất nước này (Dolan và Warden, 1994). Rừng rụng lá và rừng cây lá kim cũng chiếm một phần diện tích lớn của hòn đảo này và là nguồn cung cấp gỗ, bột giấy và giấy cho Nhật Bản. Các khu vực đô thị và khu công nghiệp của Hokkaido nằm dọc theo con sông dài thứ ba của Nhật Bản là Ishikari, cắt ngang qua phía giữa Tây Hokkaido. Sông Ishikari cũng là một trong những ngư trường màu mỡ nhất của Nhật Bản. Đánh bắt cá ở Hokkaido, cả nước ngọt và nước mặn, cung cấp 1/5 tổng sản lượng đánh bắt của Nhật Bản. Ngoài nguồn tài nguyên thiên nhiên của Hokkaido, hòn đảo này cũng là điểm nóng cho du lịch bao gồm khu nghỉ dưỡng mùa đông và các khu vực thể thao mùa đông.
Ainu là dân bản địa của Hokkaido và được cho là đông hơn những người Nhật Bản khoảng 1.800 người. Hiện nay, có khoảng 16.000 người Ainu ở Hokkaido, nằm ​​chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam của Sapporo, Hakodate và Otaru. Do mùa đông khắc nghiệt của Hokkaido, các khu vực của hòn đảo này, chủ yếu là phía Bắc, dân cư thưa thớt nhưng điều đó đang dần thay đổi.
Xây dựng, khai thác và sản xuất đã nhanh chóng trở thành những ngành công nghiệp quan trọng ở Hokkaido. Phát triển công nghiệp và dân cư từ những năm 1980 đã thay đổi đáng kể chất lượng môi trường và đặc điểm nông thôn của các khu vực của Hokkaido (Dolan và Warden, năm 1994). Vấn đề môi trường, chẳng hạn như ô nhiễm không khí và quá trình axit hóa của các hồ và hồ chứa, làm giảm chất lượng không khí và chất lượng nước , đồng thời giảm giá trị kinh tế và sinh thái của các nguồn tài nguyên. Tổng hợp những vấn đề này hiện nay là do biến đổi khí hậu gây ra, đe dọa ảnh hưởng đến nền kinh tế và môi trường, bắt buộc các cư dân của hòn đảo Hokkaido phải thay đổi.
Biến đổi khí hậu được quan sát thấy
Nhật Bản đang nóng lên. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nhật Bản đã tăng khoảng 1,0 ° C trong thế kỷ qua (Cruz et al., 2007). Ngoài ra, Nhật Bản đã phải trải qua những ngày nóng thường xuyên hơn (những ngày có nhiệt độ tối đa cao hơn 35 ° C) và ít những ngày lạnh cực độ hơn (JMA, 2005). Thật không may, sự thay đổi này thậm chí nhiều hơn mức đã định tại Hokkaido, nơi nhiệt độ mùa đông trung bình đã tăng nhiều hơn mức trung bình quốc gia (nóng lên 1,33 ° C ở Hokkaido so với mức trung bình quốc gia 1,09 ° C) (JMA, 2006).
Trong khi sự thay đổi về lượng mưa trên khắp Nhật Bản không xuất hiện một cách rõ ràng, nó là bằng chứng cho thấy rằng các trận mưa đã trở nên biến đổi hơn. Cụ thể, IPCC (2007) cho rằng, xét về tổng thể, không có xu hướng tăng hoặc giảm đáng kể về lượng mưa trong suốt thế kỷ 20. Tuy nhiên, sự thay đổi, ví dụ như: về thời gian, mùa vụ, số lượng… đã tăng lên đối với Nhật Bản. Đây là loại thay đổi có thể biến thành các mô hình lượng mưa không thể dự báo trước, sẽ làm cho quy hoạch quản lý tài nguyên nước  và nông nghiệp trở nên khó khăn hơn. Trong một số khu vực của Nhật Bản, xu hướng giảm đáng kể lượng mưa trung bình hàng năm đã được nhận thấy (Cruz et al, 2007). Ngoài ra, có sự giảm đáng kể lượng tuyết rơi cũng như thời gian và mức độ của băng biển (sea-ice) ở phần phía Nam của Biển Okhotsk (Ishizaka 2004; Hirota et al, 2006), bao gồm cả dọc theo bờ biển Hokkaido (JMA, 2007a), mặc dù điều này phần lớn bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi dòng chảy đại dương và không phải hoàn toàn do biến đổi khí hậu. Hình ảnh vệ tinh trên biển Okhotsk xác nhận rằng mỗi năm đã có 4,4% lượng băng trên biển suy giảm trong ba thập kỷ qua (EORC, 2008). Gần đây, số lượng trung bình các ngày quan sát băng trôi trên biển trong thời gian bốn năm qua đã giảm từ 87 xuống 65 ngày mỗi năm (JMA, 2008).
Các trường hợp thời tiết khắc nghiệt ở Nhật Bản đã tăng lên cả về tần suất và cường độ. Trong suốt 100 năm qua, có sự gia tăng tần suất của các trận mưa đỉnh điểm và điều này đã góp phần làm tăng số lượng các hệ thống dự báo thời tiết (the number of frontal weather systems). Ngoài ra, đã có sự gia tăng lượng mưa tối đa trong giai đoạn 1961 đến năm 2000 (Isobe 2002; Kanai et al, 2004).
Dự báo biến đổi khí hậu (Projected climate change)
Nhiệt độ trung bình hàng năm được dự báo sẽ tăng 3°C vào năm 2050, và 5°C vào năm 2080 đối với toàn bộ khu vực Đông Á (Lal et al, 2001. Alam et al, 2007). Đối với Nhật Bản, nhiệt độ được dự báo cũng tương tự, với nhiệt độ trung bình hàng năm dự kiến ​​sẽ tăng 2-3°C trong vòng 100 năm tới (MOE, 2006). Ở Hokkaido nhiệt độ được dự báo tăng lên sẽ vượt quá 4°C ở xung quanh khu vực biển Okhotsk (Kurihara et al, 2005; MOE, 2006a). Tỷ lệ nóng lên được dự báo thay đổi theo mùa và thời gian trong ngày, với sự ấm lên trong mùa đông tăng nhanh hơn trong mùa hè và sự ấm lên trong buổi đêm tăng nhanh hơn trong ban ngày (Kurihara et al, 2005). Số ngày sương giá trên khắp Nhật Bản được dự báo sẽ giảm 20 đến 45 ngày vào năm 2090 với những thay đổi lớn nhất ở Hokkaido và dọc theo biển Nhật Bản (Mizuta et al, 2005). Tần suất, thời gian và cường độ của các đợt nóng vào mùa hè và số lượng những ngày nóng cũng dự báo ​​sẽ tăng lên khắp khu vực Đông Á (Gao et al, 2002;. Meehl, 2004; Cruz et al, 2007). Tương tự như vậy, khả năng các mùa nóng đỉnh điểm tại Nhật Bản được dự báo có sự gia tăng lớn và nhiệt độ trung bình ban ngày mùa hè (tháng 6, tháng 7 và tháng 8) ở Nhật Bản được dự báo tăng từ 3,0 đến 4,2 ° C vào năm 2100 (MOE, 2006a; JMA, 2007a). Hơn nữa, một nghiên cứu Nhật Bản gần đây minh họa rằng, số lượng những ngày trên 30°C sẽ tăng mạnh từ khoảng 40 ngày một năm hiện nay lên hơn 100 ngày một năm vào năm 2100 (CCSR, 2004).  Sự thay đổi nhiệt độ như vậy có nghĩa rằng Nhật Bản có thể chuyển đổi từ một quốc gia có bốn mùa thành quốc gia chỉ có ba mùa, điều này sẽ đưa đến những thay đổi gây tác động ngược trong toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản. Các đại dương có khả năng sẽ tiếp tục ấm lên, với nhiệt độ bề mặt biển tăng từ 1 đến 6 ° C ở phía Đông xích đạo Thái Bình Dương, bao gồm cả dọc theo bờ biển phía Đông của Hokkaido (Murazaki et al, 2005).
Lượng mưa và tần suất của các trận mưa cường độ cao cũng được dự báo sẽ tăng trên toàn khu vực Đông Á (Ichikawa, 2004; Emori et al, 2005;. JMA, 2005; Cruz et al, 2007;. Christensen et al, 2007). Lượng mưa trung bình tại Nhật Bản dự báo ​​sẽ tăng hơn 10% trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong những mùa ấm áp (Kimoto et al, 2005). Trong khi sự khác biệt khu vực có khả năng sẽ tồn tại, lượng mưa trong mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 9) ở Nhật Bản được dự báo ​​sẽ tăng 17 đến 19% (MOE, 2006a). Lượng mưa trong mùa đông trên khắp Nhật Bản được dự báo hoặc không thay đổi hoặc giảm nhẹ.
Biến đổi lớn hơn trong các trận mưa được dự báo diễn ra trên khắp Nhật Bản, số ngày mưa lớn (những ngày có lượng mưa hàng ngày trên 30mm/ngày) dự báo ​​sẽ tăng 5 ngày một năm và số ngày không có mưa được dự báo ​​sẽ tăng 10 ngày một năm (Kimoto et. al, 2005). Hokkaido được dự báo tần suất và cường độ mưa tăng lên (Nishimori và Kitoh, 2006; Mizuta et al, 2005).
Sự gia tăng tần suất hoặc cường độ của các trường hợp thời tiết khắc nghiệt, chẳng hạn như hạn hán, lũ lụt và lốc xoáy nhiệt đới, cũng được dự báo sẽ diễn ra ở một số khu vực của Đông Á (Cruz et. al, 2007). Trong thực tế, sự gia tăng nhiệt độ bề mặt biển 2 đến 4°C so với nhiệt độ hiện tại có thể làm gia tăng 10 đến 20% cường độ cơn bão nhiệt đới, tùy thuộc vào độ nhạy khí hậu (Knutson và Tuleya, 2004).
Tác động
Khí hậu Nhật Bản đang thay đổi. Quan sát sự gia tăng của cả lượng mưa và nhiệt độ trên đất liền và trên biển đã cho thấy sự thay đổi môi trường - những thay đổi được dự báo ​​sẽ dẫn đến hậu quả đáng kể về kinh tế - xã hội và tự nhiên. Nhiệt độ nóng lên, mực nước biển dâng cao, những thay đổi trong các mô hình mưa và tuyết rơi cũng như các trường hợp thời tiết khắc nghiệt sẽ ảnh hưởng đến Nhật Bản ở nhiều khía cạnh, ví dụ như các mô hình nông nghiệp, sức khỏe con người, cơ sở hạ tầng, du lịch, trồng rừng, các loài hoang dã di cư, cá và thậm chí cả bản sắc văn hoá dân tộc. Phần sau đây sẽ nêu lên một số tác động được quan sát và tác động được dự báo từ biến đổi khí hậu:
1. Nước biển dâng
Mực nước biển toàn cầu đã tăng ước tính khoảng 0,17 m trong thế kỷ 20 (IPCC, 2007). Hiện nay, mực nước biển ở các vùng ven biển của Châu Á đang gia tăng với tốc độ hàng năm từ 1 đến 3 mm (Cruz et al, 2007). Dọc theo bờ biển của Nhật Bản, mực nước biển đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng 3,3 mm mỗi năm kể từ giữa những năm 1980 và với tốc độ 5,0 mm mỗi năm từ năm 1993 (JMA, 2007a). Tốc độ mực nước biển dâng tối đa đã được ghi nhận tại Kushiro, Hokkaido, tăng 9,3 mm mỗi năm từ 1970 đến năm 2003 (JMA, 2004). Dự báo biến đổi khí hậu trong tương lai mực nước biển toàn cầu tăng thêm 0,18 đến 0,59 vào năm 2100 (IPCC, 2007), mặc dù nhiều nhà khoa học cho rằng điều này là quá thấp. Ở Đông Á, tốc độ mực nước biển dâng hàng năm được dự báo sẽ tăng lên 5 mm mỗi năm trong thế kỷ tới (Cruz et al, 2007). Sự gia tăng cường độ như vậy đe dọa nghiêm trọng 34.000 km bờ biển của Nhật Bản có chứa một phần lớn dân số và hoạt động kinh tế của Nhật Bản (Kojima, 2004). So với các nước khác, Nhật Bản có số lượng người dân lớn thứ sáu (hơn 30 triệu người) sống trong phạm vi 10 km của biển Nhật Bản (IIED, 2007). Trong khi các thành phố ven biển chiếm chỉ khoảng 32% tổng diện tích của Nhật Bản, chúng nắm giữ khoảng 46% tổng dân số và sản xuất khoảng 47% sản lượng công nghiệp và 77% tổng số chi phí cho kinh doanh bán lẻ hay thị trường hàng hoá được tiêu thụ trong các thành phố ven biển (Kojima, 2004). Thật không may, mực nước biển dâng không xảy ra một cách riêng biệt, nó cũng có thể làm trầm trọng thêm các cơn bão biển, bão (typhoons), sóng thần, xói mòn bãi biển, tất cả đều là  mối đe dọa lớn đối với cộng đồng ven biển và năng suất kinh tế (Kojima, 2004).
Những tác động liên quan đến sự gia tăng mực nước biển là lũ, ngập lụt và lũ lụt nghiêm trọng, sự xâm nhập của nước mặn vào song ngòi và các tầng chứa nước ngầm,  làm xói mòn vùng ven biển của Nhật Bản. Con người và các loài động vật hoang dã sẽ trải nghiệm những tác động gia tăng mức độ của lũ lụt, bão, nước dâng  và sự xâm lấn của thủy triều vào hệ thống các sông và cửa sông  (McLean et al.,2001). Trong thực tế, sự gia tăng mực nước biển trung bình 0,3 m có khả năng có thể loại bỏ hơn 50% bãi cát trên bờ biển của Nhật Bản. Hơn 90% các bãi biển của Nhật Bản sẽ biến mất khi mực nước biển dâng 1 mét, cùng với nhiều vùng đất ngập nước thủy triều nơi cung cấp nguồn thức ăn cho các loài chim di cư (Hulme và Sheard năm 1999; MOE, 2004; Harasawa 2006). Chính phủ Nhật Bản ước tính  rằng các chi phí liên quan đến việc bảo vệ đất nước này khỏi tình trạng nước biển dâng 1m sẽ chi phí khoảng 115 tỷ USD, trong khi giá trị các tài sản có nguy cơ rủi ro từ việc mực nước biển dâng 1m vượt quá 1 nghìn tỷ USD (Kojma, 2006).
2. Tác động đến con người
Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến con người bằng nhiều cách, từ tiếp xúc trực tiếp (ví dụ như: các đợt nóng, lũ lụt và bão) đến tiếp xúc gián tiếp (ví dụ như:  thay đổi chất lượng không khí, chất lượng nước và mất các dịch vụ hệsinhthái) và phávỡhệ thống xã hội và kinh tế (Confalonieri et al, 2007). Các mô hình khí hậu khu vực dự báo sẽ tăng cường độ đợt nắng nóng đối với Nhật Bản (Cruz et al, 2007.) và nhiệt độ tăng có thể làm cho tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh chóng hơn do sự gia tăng căng thẳng do nóng bức và các bệnh truyền nhiễm (Stern, 2006). Nhiệt độ tăng cũng có thể thúc đẩy sự lây lan của một số bệnh truyền nhiễm qua vật chủ trung gian và qua đường nước gây ra (WHO,2002, MOE,  2004; Chính phủ Nhật Bản, 2006). Một khảo sát của Viện Nghiên cứu Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia Nhật Bản cho thấy rằng, môi trường sống của các loại muỗi ở Nhật Bản đang được mở rộng, chúng có thể mang theo bệnh sốt xuất huyết đến Hokkaido (NIFD, 2007). Nhiệt độ tăng cũng có thể mang đến những điều kiện sinh trưởng tốt hơn cho các loại sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh (Chính phủ Nhật Bản, 2006). Dựa trên một nghiên cứu y tế quốc gia tập trung vào tác động của biến đổi khí hậu, có ý kiến ​​cho rằng Nhật Bản đã trải qua mức độ cao của trường hợp khẩn cấp liên quan đến  sự nóng bức  và các bệnh dị ứng gia tăng cũng như các bệnh liên quan đến dị ứng với phấn hoa cây tuyết tùng của Nhật Bản (Koike, năm 2006).
Do biến đổi khí hậu, các mô hình thời tiết của Nhật Bản  bị ảnh hưởng, có khả năng  gia tăng  mạnh hơn và thường xuyên hơn các trường hợp thời tiết khắc nghiệt, chẳng hạn như bão, hạn hán và lũ lụt, mà hầu như chắc chắn sẽ có tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế của Nhật Bản. Trong khi rất khó khăn để quy trách nhiệm các trường hợp cá nhân đối với biến đổi khí hậu, một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển  Kinh tế (OECD) cho thấy rằng những thay đổi khí hậu và kinh tế - xã hội đã không những làm tăng xác suất của các trường hợp lũ lụt, đặc biệt là ngập lụt ở đô thị mà còn làm tăng tính chất dễ bị tổn thương từ lũ lụt, bởi vì mật độ dân số tăng và tập trung tài sản kinh tế ở Nhật Bản (OECD, 2006). Kết quả là,
xác suất trường hợp lũ lụt  phát triển thành một thảm họa đã tăng lên và Nhật Bản sẽ phải đối mặt với chi phí cuộc sống gia tăng và sự cần thiết phải gia tăng bảo vệ con người khỏi các thảm họa "tự nhiên".
Châu Á đặc biệt dễ bị tổn thương với các thảm họa thiên nhiên và Nhật Bản cũng không ngoại lệ. Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương hiện có của Nhật Bản với các trường hợp thời tiết khắc nghiệt như bão và những cơn bão ven biển có khả năng tăng tốc độ gió bão ở Nhật Bản lên 6% (ABI, 2005). ABI ước tính rằng thiệt hại liên quan đến gió được bảo hiểm từ những cơn bão khắc nghiệt ở Nhật Bản có thể tăng từ thua lỗ hàng ngày hiện tại từ 10-14 tỷ USD lên 15-20 tỷ USD,  tăng 67-70%, nhiều hơn gấp hai lần các chi phí của mùa bão năm 2004, chi phí đắt đỏ nhất trong vòng 100 năm qua (ABI, 2005). Bên cạnh đó cũng đã có một sự gia tăng gấp 10 những thiệt hại về kinh tế liên quan đến thời tiết trong hơn 40 năm qua (IPCC,2001). Bão (Typhoons) là một trong ba kiểu bão chủ yếu ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm Nhật Bản, lớn thứ ba trên thế giới (ABI,2005). Tính trung bình, tổng thiệt hại trong ngành công nghiệp do những cơn bão (Typhoons) được bảo hiểm của Nhật Bản  ước tính lên tới 4 tỷ  USD (ABI, 2005) và năm 2004 là năm chi phí tốn kém nhất cho mùa bão (Typhoons) trong một thế kỷ, với tổng thiệt hại từ 3 cơn bão (Typhoons) lên đến 14 tỷ USD (ABI, 2005).
Nguồn nước và lĩnh vực nông nghiệp có khả năng là lĩnh vực nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu đã gây ra những tác động ở Châu Á (Cruz et al, 2007). Nhiệt độ tăng và lượng mưa biến động hơn có thể có một ảnh hưởng bất lợi trên các lưu vực sông, các dịch vụ hệ sinh thái mà chúng cung cấp (ví dụ như lọc nước) và các loài gia cầm nông nghiệp (MOE, 2004). Những thay đổi trong việc phân bố lượng mưa:  lượng mưa và nhiệt độ gia tăng cũng sẽ có tác động đáng kể đến chất lượng nước và nguồn nước (Gitay et al. 2002). Nhiệt độ ấm lên và sự giảm sút về nguồn nước sẵn có cũng có thể ảnh hưởng xấu đến một số hồ nước ngọt ở Nhật Bản, đặc biệt, chất lượng nước có thể sẽ xấu đi và việc tăng chất hóa học trong nước có thể trở nên phổ biến hơn, ảnh hưởng đến sản xuất và thu hoạch cá (Gitay, et al., 2002). Những thay đổi về tài nguyên nước cũng có thể tác động đến khu vực kinh tế - xã hội và môi trường như sức khỏe, an toàn cộng đồng, đa dạng sinh học, nông nghiệp và ngành công nghiệp (EEA, 2007).
Những tác động của tình trạng nhiệt độ nóng lên sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến các ngành công nghiệp nông nghiệp của Nhật Bản (Hirota et al., 2006). Nhiệt độ khu vực tăng lên đã ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp của Hokkaido trong một số khía cạnh khác nhau, thuận lợi cho canh tác lúa nhưng không thuận lợi cho các loại trái cây. Trên thực tế, nhiệt độ tăng cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số loại cây ăn quả và các sự cố trái cây bất thường đã được xác định trên khắp Nhật Bản từ nho không chuyển màu đỏ cho đến cùi đào màu nâu. Sự gia tăng nhiệt độ nước  do biến đổi khí hậu gây ra sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh thái, sự phân bố địa lý của các loài thủy sản và có thể dẫn đến sự suy giảm và có nguy cơ tuyệt chủng của một số loài quan trọng khỏi khu vực. Bởi vì Hokkaido được coi là một trong những khu vực sản xuất  gạo lạnh nhất trên thế giới, cây lúa được phân bố có giới hạn. Nghiên cứu gần đây cho thấy sự gia tăng nhiệt độ có thể dẫn đến sự gia tăng của sản xuất lúa gạo (ví dụ,  nhiệt độ tăng  1 ° C có thể dẫn đến năng suất lúa tăng 6%). Khi các yếu tố khác - chẳng hạn như bức xạ mặt trời và tốc độ gió, được kể tới, nhiệt độ nước có thể làm ấm lên bất cứ nơi nào từ 0 đến 2 ° C và sau đó sản lượng gạo có thể dao động từ giảm 30% đến tăng 41%. Điều này cho thấy độ không chắc chắn lớn trong mô hình tác động của khí hậu đến việc trồng lúa ở khu vực này của Nhật Bản (Shimono et al, 2007). IPCC nhấn mạnh rằng, năng suất lúa được dự báo sẽ giảm đến 40% trong khu vực đồng bằng tưới tiêu ở miền trung và miền nam Nhật Bản, dưới bầu khí quyển tăng gấp đôi nồng độ  carbon dioxide (CO) (Cruz et al, 2007). Mặt khác, Hokkaido có thể gặp một đợt gia tăng tạm thời thu hoạch ngũ cốc. Tuy nhiên, với những thay đổi trong lượng mưa và độ ẩm đất, sự gia tăng này không thể kéo dài nếu nó xảy ra ở tất cả các nơi.
Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến cả cá nước ngọt,  cá nước mặn trên khắp Nhật Bản và các vùng nước ven biển của quốc gia này,  đe dọa thay đổi trụ cột chính của ẩm thực Nhật Bản. Một trong những nghiên cứu đầu tiên về sự thay đổi lớn trong sự phân bố và sự phong phú của các loài cá là ở phía Bắc  biển Bering  (Grebmeier et al, 2006), nhưng những quan sát này có thể cũng được áp dụng cho vùng biển Nhật Bản. Một ví dụ là sự thay đổi được dự báo đối với loài cá thu đao ở phía bắc  Thái Bình Dương ngoài khơi bờ biển của Nhật Bản (MAFF, 2007). Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, tăng trưởng và phân bố của các loài cá và có thể thay đổi các hiệu ứng mạng lưới thức ăn của cán cân động vật ăn thịt - con mồi, thay đổi mức độ các chất dinh dưỡng trong nước. Do băng trôi tạo ra một môi trường đại dương giàu  dinh dưỡng thúc đẩy  tảo băng (ice algae) tăng trưởng và do đó hình thành nên các liên kết chính trong chuỗi thức ăn đại dương, một sự thay đổi trong thời gian trôi của các dải băng sẽ ảnh hưởng đến sản lượng cá và tiếp đó là ngành công nghiệp đánh bắt cá của Nhật Bản (MOE, 2006a). Trong khi vùng biển ngoài khơi của Nhật Bản hiện một số loài thủy sản được xem là giàu có nhất thế giới [phần lớn là do sự hội tụ của dòng cận nhiệt đới Nhật Bản (Kuroshio) và dòng cận Bắc cực Kurile (Oyashio) (MOE,2006)], nghiên cứu cho thấy rằng Nhật Bản có thể phải đối mặt với một sự suy giảm đáng kể trong một số loại cá  đánh bắt trong thế kỷ 21.
Sự suy giảm mức độ băng biển  (sea-ice) và tuyết bao phủ  cũng sẽ có khả năng thay đổi hiệu quả của ngành du lịch nhờ vào băng tuyết, chẳng hạn như thị trấn nghỉ mát trượt tuyết của Niseko, Hokkaido
(JMA, 2007a). Trong khi sự suy giảm mức độ hiện tại của băng biển được coi là hiệu ứng kết hợp của nhiệt độ nóng lên và thay đổi dòng chảy đại dương, không thể phủ nhận  nó là một biểu tượng của Hokkaido, và không có nó Hokkaido sẽ bị mất một phần trong sự toàn vẹn văn hóa của mình. Abashiri, Hokkaido, khu vực cực nam của thế giới trải nghiệm băng trôi, có thể là nơi đầu tiên các tảng băng nổi sẽ biến mất  (tháng 6, 2008).
3. Tác động đến các hệ thống tự nhiên
Hokkaido quy hoạch một số khu vực hoang dã rộng lớn nhất ở Nhật Bản, từ những khu rừng  ôn đới mát mẻ  ở phía nam cho đến tiểu hệ sinh thái cận Bắc cực ở phía bắc và hơn 200 loài chim trong khu rừng rụng lá đất thấp. Ngoài ra, chỉ duy nhất khu vực  này ở Nhật Bản tạo điều kiện sinh trưởng cho loài gấu nâu. Tuy nhiên,sự căng thẳng của biến đổi khí hậu cộng thêm những áp lực hiện có đe dọa các loài  và các khu vực tự nhiên này. Biến đổi khí hậu có thể sẽ có tác động lớn nhất đến các hệ sinh thái biển và ven biển, các khu vực miền núi và rừng (Alam et al, 2007). Trong thực tế, hơn 20% động vật có vú, động vật lưỡng cư, các loài cá nước lợ và cá nước ngọt, các thực vật có mạch (nhựa) đang sinh sống ở Nhật Bản phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, cùng với khoảng 20% các loài bò sát và hơn10% các loài chim (MOE, 2006). Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề này. Khi nhiệt độ tiếp tục tăng lên, một số loài chỉ tồn tại ở độ cao nhất của các dãy núi của Hokkaido bị đe dọa nhất. Một loài động vật là pika, là loài sống ở vùng núi bị đe dọa trong suốt quá trình phân bố sinh sống của chúng (WWF, 2008). Tại Nhật Bản pika được liệt kê như là một loài của địa phương bị đe dọa vào Danh sách đỏ của Bộ Môi  trường Nhật Bản (MOE, 2008). Thật không may, pika đã bị tuyệt chủng cục bộ ở một số vùng trên thế giới (Beeveret al, 2003). Khi nhiệt độ tăng, một số loài cây rừng đã phản ứng bằng cách di chuyển dần lên độ cao hơn và đang xâm lấn những bãi cỏ núi cao,
nơi gần đây  đã có sự suy giảm  trong sự phân bố của thực vật núi cao ở Hokkaido (MOE, năm 2004). Nếu xu hướng này tiếp tục, Nhật Bản có thể mất nhiều bãi cỏ núi cao mang tính biểu tượng và các loài sống ở đó.
Ngoài ra, các loài di cư như những thiên nga Whooper và đại bàng biển Steller có thể cũng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu như nhiệt độ ấm lên và các mô hình lượng mưa thay đổi. Một phần ba trong tổng số các loài chim này của thế giới di cư tới bờ biển phía đông bắc của Hokkaido. Loài sếu Nhật Bản, biểu tượng quốc gia, tượng trưng cho cuộc sống lâu dài và hạnh phúc, cũng bị ảnh hưởng tương tự. Hiện nay, Hokkaido cũng là một trong những địa điểm trú đông cho các loài này, và "gần như có mối đe dọa" đối với loài ngỗng trắng  (white-fronted goose) (Anser albifrons) (MOE, 2004). Tuy nhiên, các loài khác cũng  có thể phải cạnh tranh cho các nhu cầu sống và đòi hỏi về thức ăn tương tự. Biến đổi khí hậu cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản và  vòng đời của một số loài, thảm thực vật, sau đó là các loài ở tầng thấp phụ thuộc vào những loài thực vật này, các loại côn trùng và các bệnh (gốc et al, 2003.). Ví dụ, sự phân bố dịch chuyển  về phía bắc  của loài bướm, sâu bướm, chuồn chuồn và ve sầu ở Nhật Bản đã được nhận thấy (MOE, 2004). Nhiều loài sẽ bị buộc phải di chuyển về phía các cực (pole-ward) hoặc những nơi có độ cao lớn hơn (khi có thể) trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Sự di cư của các loài này chắc chắn sẽ thay đổi thành phần của hệ sinh thái hiện tại và các khu vực hoang dã (Gitay et al., 2002).
Thiệt hại của các loài do biến đổi khí hậu gây ra và nguy cơ tuyệt chủng cũng đe dọa các loại cây trồng nông nghiệp (ví dụ như các loài thụ phấn), y dược. Nhiệt độ tăng và lượng mưa biến động có ảnh hưởng đến chu kỳ sinh trưởng của các loài thực vật riêng lẻ, chẳng hạn như nở hoa sớm hơn trong thời điểm mùa xuân so với thập kỷ trước (Root et. al. 2003.). Số ngày đổi màu lá vàng mùa thu và số ngày lá rụng cũng đang thay đổi (JMA, 2007b). Trong hơn 50 năm qua, Nhật Bản đã trải qua số ngày nở sớm hơn trung bình  đối với hoa anh đào là 4,2 ngày (JMA, 2007b). Những thay đổi chu kỳ sinh trưởng cũng đã được phát hiện ở cây Ginkgo và cây Thích (maple) Nhật Bản, cả hai đều có mùa  sinh trưởng dài hơn. Hiện loài cây Ginkgo bắt đầu mùa sinh trưởng sớm hơn bốn ngày và kết thúc muộn hơn khoảng tám ngày so với thời kỳ sinh trưởng của loài cây này trong suốt bốn thập kỷ qua (Matsumoto, et al., 2003). Những thay đổi chu kỳ sinh trưởng cũng đã được phát hiện ở các loại cây trồng khác của Nhật Bản, bao gồm cả cây bồ công anh (dandelion) Nhật Bản và cây đậu tía (Wisteria) Nhật Bản. Nhìn chung, nhiệt độ ấm hơn đã làm cho hoa nở  sớm hơn và do đó gây ra lo ngại về sự không phù hợp hệ sinh thái, các loài chim và côn trùng đang có nguy cơ lớn nhất (JMA, 2007b).

Tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng
Một phần lớn dân số và sản lượng công nghiệp  của Nhật Bản  nằm gần bờ biển và do đó rất dễ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Cơ sở hạ tầng tại các cảng công nghiệp nặng của Nhật Bản là đặc biệt dễ bị tổn thương (ví dụ, nhà xưởng, nhà máy lọc dầu, khí đốt hóa lỏng và hóa chất thực vật, các nhà máy thép, nhà máy đóng tàu và các thùng chứa dầu) (Hulme và Sheard, 1999). Nhật Bản có một số lượng đáng kể bờ biển, đó cũng sẽ là nguy cơ khi mực nước biển dâng, kết hợp với bão  biển và thiên tai,  bao gồm cả sóng thần, xói mòn bờ biển và lũ lụt (UNDP, 2007). Trong thực tế, khoảng 860 km2 các thành phố công nghiệp lớn của Nhật Bản nằm thấp hơn mực nước trung bình và khả năng dễ bị tổn thương của khuvựcnày sẽ lớn hơn gấpbalầnkhimựcnướcbiển dâng 1m (Hulme và Sheard, 1999). Các lĩnh vực khác dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tài nguyên nước, quản lý ven biển, hệ sinh tháitựnhiên vàcácdịchvụcủachúng, sứckhỏecon người. Thật không may, ngay cả khi chúng ta đã ổn định nồng độ CO2 ở mức hiện tại, sự nóng lên toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục trong những thập kỷ tới và mực nước biển sẽ tiếp tục tăng lên trong những thế kỷ tới.
Nhằm ứng phó hiệu quả với sự tăng lên không thể tránh khỏi của nhiệt độ và những tác động liên quan như ngập lụt ven biển và lũ lụt, những chiến lược thích ứng cần được áp dụng trong khuôn khổ quốc gia hiện nay và đánh giá biến đổi khí hậu cần được lồng ghép vào các chính sách quốc gia. Đối với hệ thống tự nhiên, WWF (2003) đã vạch ra bốn nguyên lý cơ bản để xây dựng khả năng phục hồi trong khi đối mặt với biến đổi khí hậu:
1. Bảo vệ không gian một cách đầy đủ và thích hợp
2. Giới hạn tất cả các áp lực phi khí hậu
3. Sử dụng cách tiếp cận quản lý thích ứng tích cực và bắt đầu chiến lược thử nghiệm
4. Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính
Các biện pháp thích ứng liên quan đến phòng vệ cơ sở hạ tầng xã hội, bảo vệ vùng ven biển, các phương pháp canh tác và sản xuất nông nghiệp  có thể bao gồm thận trọng thu hồi, thích ứng và phòng ngừa như đề xuất của IPCC (MOE, 2006a). May mắn thay, bằng chứng ở Nhật Bản cho thấy những tác động của biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng hiện nay đang được xem xét  ở các lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải (Shimoda, 2003) và đặc thù của các biện pháp thích ứng này bao gồm các cấu trúc phòng vệ bờ biển. Tuy nhiên, ước tính 115 tỷ USD sẽ được huy động để bảo vệ cơ sở hạ tầng ở Nhật Bản khỏi thiệt hại khi mực nước biển dâng chỉ 1m (Kojima,2004; Harasawa et al, 2005).
Ngoài ra còn có các biện pháp thích ứng được Tổ chức Khí tượng Thế giới (2008) và Koike (2006) vạch ra:
• Giáo dục và đào tạo về phòng chống thiên tai, ứng phó và chuẩn bị sẵn sàng
• Phát triển và duy trì  hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm các trường hợp khắc nghiệt
• Kiểm soát các trường hợp khẩn cấp liên quan đến bức xạ nhiệt và thông báo cho các tổ chức viện trợ khi cần thiết
• Sử dụng các biện pháp thích ứng với sự gia tăng mực nước biển
• Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro bao gồm cả
xây dựng và/hoặc kiểm tra các cơ sở phòng ngừa bão biển
• Xác định các yêu cầu giám sát và lập ra những kế hoạch để tuyên truyền thông tin rủi ro đến người dân
• Thiết lập các hệ thống và các kế hoạch sơ tán
• Giáo dục và tiếp cận cộng đồng về những rủi ro và giải pháp với biến đổi khí hậu
KẾT LUẬN
Báo cáo này cho thấy rằng biến đổi khí hậu thực sự đã ảnh hưởng đến Nhật Bản, ví dụ như nông nghiệp và ngành công nghiệp thủy hải sản, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, di sản văn hóa và bản sắc văn hóa. Những thay đổi từ biểu tượng ví dụ như hoa anh đào nở sớm cho đến những tác động đe dọa sự sống và chi phí đắt đỏ khi mực nước biển dâng và các trường hợp thời tiết khắc nghiệt. Khí hậu thay đổi buộc các cư dân của Nhật Bản phải thay đổi cả hiện nay và trong tương lai.
Mặc dù Nhật Bản có tiềm năng thích nghi cao, đất nước này vẫn còn rất dễ bị tổn thương từ những hậu quả của nhiệt độ ấm lên và nên khẩn trương giảm thiểu khí thải nhà kính gây ô nhiễm môi trường, trong khi thực hiện các chiến lược thích ứng càng sớm càng tốt. Theo ông Nicholas Stern (2006), Trưởng Bộ phận Kinh tế của Chính phủ Vương quốc Anh (Head of the U.K. Government Economic Service), tổng chi phí và rủi ro của biến đổi khí hậu sẽ tương đương với thiệt hại 5 đến 20% GDP toàn cầu mỗi năm - nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ. Ngược lại với những chi phí cắt cổ của việc không hành động, Stern nhấn mạnh rằng chi phí của việc giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính để tránh những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu có thể được giới hạn khoảng 1% GDP toàn cầu mỗi năm.
Biến đổi khí hậu toàn cầu có lẽ là thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt và vì số lượng các khí nhà kính mà chúng ta đã thải vào bầu khí quyển, chúng tôi khẳng định nhiệt độ ít nhất sẽ nóng lên 0,6 ° C trong những năm tiếp theo. Đáp lại, chúng ta rất cần phải giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, sử dụng các chiến lược thích ứng phù hợp và hiệu quả để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và tác động của nó. Thế giới vẫn có thể tránh được những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu, nhưng để mở ra cánh cửa cơ hội này cần phải hành động để kiềm chế sự nóng lên toàn cầu dưới ngưỡng nguy  hiểm của 2 °C. Các nước công nghiệp như Nhật Bản cần phải thừa nhận trách nhiệm của họ với cuộc khủng hoảng khí hậu hiện nay và cần tiên phong trong việc giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thực hiện: Hà Hậu, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á.