Thứ Bảy, ngày 01 tháng 12 năm 2012

52. Mỹ và Trung Quốc: lợi ích vừa đan xen, vừa thách thức

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Ba, ngày 6/11/2012
Tạp chí “The World” (Mỹ) vừa có bài phân tích sự tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa Mỹ với Trung Quốc tại một số địa bàn trọng yếu trên thế giới. Nội dung chính như sau:
Cả hai cùng giành giật châu Phi
Mới đây, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tiến hành chuyến thăm nhiều nước châu Phi, với mục tiêu được công bố là “xúc tiến nền dân chủ”, nhưng thực ra còn có một mục tiêu khác, quan trọng hơn, đó là nhằm cảnh báo các nhà lãnh đạo châu Phi trước mối nguy hiểm của cuộc tấn công kinh tế của Trung Quốc.
Từ nhiều năm nay, một cuộc chiến tranh bí mật tranh giành nguồn tài nguyên ở châu Phi đã diễn ra giữa các nước phương Tây đang trên đà suy giảm và Trung Quốc đang bành trướng rất mạnh mẽ. Từ năm 2009, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại hàng đầu của châu Phi. Năm 2009, kim ngạch thương mại giữa hai bên đạt kỷ lục tới 166,3 tỷ USD, tăng 83% so với năm 2008. Trung Quốc lại vừa thông báo tăng (tới 20 tỷ USD các khoản tín dụng cho châu Phi. Trung Quốc xây dựng đường sá, tài trợ cho các trường đại học và các trung tâm xã hội tại các nước mà người Trung Hoa gọi là “bị thế giới lãng quên”. Trong những chuyến thăm trên, bà Hillary Clinton đã nhiều lần nói úp mở với các vị chủ nhà châu Phi rằng lịch sử xưa và nay đã cho thấy cần phải dè chừng Trung Quốc như thế nào.
Mỹ và châu Âu vẫn tiếp tục chi phối châu Phi thông qua các mạng lưới chính trị kinh doanh của họ và các thể chế đa phương, như Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB), và đã đạt được kết quả. Chẳng hạn, Mali đã bị WB buộc phải chuyên về sản xuất bông, cạnh tranh với bông của Bắc Mỹ là nơi được hưởng trợ cấp của cường quốc tự do hàng đầu. Bà Clinton chắc chắn đã không yêu cầu châu Phi phải dè chừng các tổ chức này, nhưng bà đã đề nghị họ quan hệ với Trung Quốc như thế.
Trung Quốc và Mỹ với những lợi ích ở châu Á-Thái Bình Dương
Tình hình căng thẳng mới đây trong khu vực, nhất là về vấn đề kiểm soát một số hòn đảo ở Biển Đông, đã cho thấy những tham vọng ngày càng tăng của Trung Quốc, và Mỹ đang tìm cách ngăn chặn bằng mọi giá.
Tình hình căng thẳng ở châu Á-Thái Bình Dương có nguy cơ biến thành cuộc khủng hoảng hoặc chiến tranh, đấy là nhận xét của Mỹ tại diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), được tổ chức tại Vladivostok, miền cực Đông của Nga, cách đây chưa lâu. Diễn đàn năm nay được tổ chức nhằm thảo luận về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng nó cũng bị chi phối bởi các cuộc tranh cãi về lãnh thổ đang nổi lên mới đây giữa các nước châu Á tại Biển Đông. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương gồm 21 nước nằm xung quanh Thái Bình Dương. Trong cuộc họp cấp cao này, nhiều nhà lãnh đạo đã bày tỏ mối lo ngại về tình hình ở Biển Đông. Nguyên nhân gây ra tình hình căng thẳng này là do Trung Quốc, nước không ngừng đòi chủ quyền đối với toàn bộ vùng Biển Đông (nằm ở Thái Bình Dương và giàu tài nguyên thiên nhiên), kể cả các vùng gần bờ biển của các nước láng giềng như Việt Nam và Philíppin. Các ý đồ này của Trung Quốc đã khiến các nước ASEAN chia rẽ tới mức đây là lần đầu tiên trong 45 năm tồn tại, các nước ASEAN đã không thỏa thuận được với nhau về một thông cáo chúng trong một cuộc họp cấp cao vào tháng 7 vừa qua.
Việt Nam và Philíppin đã tố cáo Trung Quốc có những hành động hăm dọa để mở rộng chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài hai nước này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng nhanh chóng bị xấu đi nghiêm trọng trong những ngày qua do tranh chấp chủ quyền các đảo Senkaku/Điếu Ngư là trung tâm của một cuộc chiến đòi chủ quyền giữa hai nước. Các hòn đảo này, giàu cá và dầu lửa, hiện thuộc Nhật Bản, và những người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa ở Nhật Bản đã thể hiện ý muốn quốc hữu hóa nó. Thông báo này đã lập tức châm ngòi và làm bùng phát tình hình căng thẳng giữa Tôkyô và Bắc Kinh. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi đây là một sự khiêu khích mới và một sự vi phạm lãnh thổ của Trung Quốc, và đòi Nhật Bản phải chấm dứt ý tưởng trên, phải thực hiện những hành động cụ thể để cùng với Trung Quốc giảm bớt tình hình căng thẳng.
Trong một nỗ lực tháo ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng giữa hai siêu cường kinh tế này, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã thực hiện một chuyến thăm tới Bắc Kinh, tại đây bà đã ủng hộ một quan điểm đa phương để tìm cách giải quyết bất đồng về lãnh thổ ở Biển Đông. Trên thực tế, từ khi cuộc khủng hoảng diễn ra, Mỹ đã đứng về phía đồng minh của mình là Nhật Bản. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, Victoria Nuland, đã thẳng thắn chỉ rõ Senkeku/Điếu Ngư nằm trong điều khoản 5 của Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ, vì vậy, Mỹ sẵn sàng tới cứu giúp Nhật Bản bảo vệ các hòn đảo này. Chính vì thế mà bà Clinton đã nhận được “một sự đón tiếp lạnh nhạt” từ phía các nhà lãnh đạo Trung Quốc, họ đã công khai yêu cầu bà đừng dính líu vào cuộc tranh chấp lãnh thổ và cảnh cáo bà trước mọi sự gây tổn hại của Mỹ đến nhũng lợi ích cơ bản của Trung Quốc.
Được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đón tiếp, bà Clinton đã đưa ra những lời lẽ mang tính hòa giải, khẳng định rằng vì lợi ích chung nên Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng như các nước có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải khác với Trung Quốc, phải tiến hành một tiến trình ngoại giao, phải đối thoại để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, chuyến thăm Trung Quốc của bà Hillary Clinton nằm trong khuôn khổ một chuyến thăm châu Á-Thái Bình Dương kéo dài 10 ngày bắt đầu là Inđônêxia, sau đó là Timo Lexte, Brunây và cuối cùng là Vladivostok của Nga. Chuyến thăm này của bà Clinton nhằm chống lại hoặc đúng hơn là cân bằng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực và tăng cường tình đoàn kết của các nước ASEAN mới đây đang bị sứt mẻ do những bất đồng về lãnh thổ với nước láng giềng hùng mạnh Trung Quốc. Trong chuyến thăm của mình, bà Clinton đã khuyến khích các nước châu Á lập ra một mặt trận vững chắc trước nhừng tham vọng của Trung Quốc.
Theo các chuyên gia, chuyến thăm này đã khiến Trung Quốc rất lo ngại bởi Ngoại trưởng Mỹ đã không ngừng nói rằng Thái Bình Dương đã trở thành một khu vực mang tính sống còn đối với Mỹ về mặt kinh tế và chiến lược, thể hiện tham vọng của Mỹ biến thế kỷ 21 thành “thế kỷ của nước Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương”. Trong những năm qua, Mỹ đã tiến hành một cuộc tấn công ngoại giao chưa từng thấy trong khu vực này, gia tăng các chuyến thăm chính thức, trong khi vẫn quyết định triển khai 60% khả năng quân sự của mình tới khu vực này. Dường như là Trung Quốc khó mà thực hiện được những tham vọng của mình tại Biển Đông bởi Mỹ đang là đối trọng đáng gờm đối với sự trỗi dậy của một siêu cường Trung Quốc trong khu vực.
Ai Cập: Một mục tiêu tranh giành mới
Một đoàn đại biểu kinh tế quan trọng của Mỹ vừa mới hoàn thành một chuyến thăm 4 ngày tới Ai Cập, nhằm tạo đà mới cho mối quan hệ giữa hai nước. Đoàn đại biểu lớn chưa từng thấy mà Mỹ đã phái tới một nước Arập này, gồm hơn 100 giám đốc của 54 công ty hùng mạnh trong giới kinh doanh Mỹ, như Boeing, General Electric, IBM, Google, Microsoft, Citigroup hay Coca Cola. Mục tiêu của chuyến thăm, như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, Patrick Ventrell, cho biết là “xác định những cơ hội mới về sự hợp tác và quan hệ đối tác, bày tỏ niềm tin của Mỹ trong lĩnh vực kinh doanh của Ai Cập và chứng tỏ cam kết về lâu dài của Mỹ ủng hộ sự phát triển kinh tế của Ai Cập”. Chuyến thăm diễn ra vào lúc Chính phủ Mỹ đang chuẩn bị xóa một tỷ USD khoản nợ của Ai Cập đối với Mỹ. Số tiền này tương đương với một phần ba toàn bộ số tiền nợ 3,2 tỷ USD của Ai Cập đối với Mỹ. Chính quyền Barack Obama cũng lập ra nhiều quĩ và chương trình kinh tế trị giá 500 triệu USD để giúp Ai Cập tạo công ăn việc làm. Cuối cùng, Mỹ đã sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy IMF chấp nhận khoản tín dụng 4,8 tỷ USD mà Ai Cập cần để lấp đầy khoản thâm hụt ngân sách và đẩy mạnh nền kinh tế của mình.
Đối với Mỹ, sự việc là rõ ràng: các chương trình khác nhau này và các kế hoạch cứu trợ về kinh tế là nhằm bảo đảm cho mình có được thiện chí về chính sách đối ngoại của chế độ mới ở Ai Cập do tổ chức Anh em Hồi giáo chi phối. Đây cũng là nhằm bảo đảm sao cho chế độ Hồi giáo tiếp tục tôn trọng hiệp định Trại David đã ký năm 1979 với Ixraen. Cũng cần phải nói thêm rằng Mỹ vẫn thường xuyên sử dụng đòn bẩy về kinh tế cũng như viện trợ về quân sự để gây ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Ai Cập, từ thời kỳ Tổng thống Anouar Al-Sadate trong những năm 1970. Giờ đây, bằng cách viện trợ kinh tế, Mỹ đang tìm cách có lợi về chính trị từ tình hình kinh tế xấu đi của Ai Cập do cuộc cách mạng ngày 25/1/2011 gây ra. Đúng là Ai Cập đang cấp bách tìm kiếm viện trợ kinh tế và tài chính của nước ngoài, trông chờ tất cả các bên nước ngoài có thể cung cấp cho mình, chẳng hạn các chế độ quân chủ vùng Vịnh, IMF, WB, Trung Quốc, và nhất là Mỹ. Nhận thức được rằng các yêu cầu về kinh tế là quan trọng nhất đối với đa số người dân Ai Cập do các cuộc nổi dậy của nhân dân lật đổ Hosni Mubarak, chế độ Hồi giáo mới ở Ai Cập không thể tự mình đáp ứng những yêu cầu này nhưng cũng không thể thất bại về mặt kinh tế vì sự sống còn của mình, và Mỹ đang hoạt động một cách chủ động theo hướng này để giữ vững và cải thiện chỗ đứng của mình ở Ai Cập, và rộng ra là toàn khu vực Trung Đông-Bắc Phi.
Sau những do dự trong việc ủng hộ một chế độ do người Hồi giáo chi phối, cuối cùng Mỹ đã quyết định ủng hộ họ xuất phát từ chủ nghĩa thực dụng về chính trị. Dù vẫn bất đồng với Tổ chức Anh em Hồi giáo, Mỹ vẫn phải bắt tay với họ để bảo vệ những lợi ích của nước này tại khu vực Trung Đông. Sự vồn vã mới đây của Mỹ trong việc tỏ ý sẵn sàng giúp đỡ Ai cập về kinh tế và tài chính ngay trước khi Tổng thống Ai Cập Mohamad Morsi tiến hành chuyến thăm Mỹ ngày 24/9 vừa qua liên quan đến những mối lo ngại của Mỹ về phương hướng mới trong chính sách đối ngoại của Ai Cập. Các chuyến thăm của Tổng thống Morsi tới Trung Quốc, đối thủ về kinh tế của Mỹ ở cấp độ thế giới, và tới Iran, kẻ đối đầu với Mỹ ở khu vực Trung Đông đã khiến Mỹ lo ngại và tức giận vì Mỹ lo ngại Ai Cập sẽ rời xa khỏi phạm vi ảnh hưởng của mình. Tổng thống Morsi không che giấu ý muốn tái cân bằng chính sách đối ngoại của Ai Cập và thoát khỏi liên minh quá chặt chẽ với Mỹ, được thiết lập trong suốt 4 thập kỷ qua. Đối với ông Morsi, đây là tìm lại một sự độc lập lớn hơn và một sự tự do hành động quan trọng hơn trong thế giới bên ngoài. Đối với vị tổng thống đầu tiên được bầu lên một cách dân chủ thì đây cũng là đáp ứng những khát vọng của người dân, phản đối những sự can thiệp của Mỹ, bằng cách sử dụng viện trợ kinh tế và quân sự hàng năm, vào các công việc nội bộ của đất nước và bất bình trước sự liên kết có hệ thống của Mỹ với chính sách xâm lược của Ixraen chống nhân dân Palextin. Trong những điều kiện này, chế độ mới của Ai Cập một mặt đang tìm cách giữ khoảng cách đối với Mỹ, nhưng mặt khác vẫn phải làm sao để không gây tổn hại đến những lợi ích kinh tế của Ai Cập và của quân đội nước này, hàng năm vẫn nhận được 1,3 tỷ USD viện trợ của Mỹ.
Để thành công trong hoạt động này đòi hỏi trước tiên phải có những giải pháp thay thế đáng tin cậy hơn Mỹ về mặt tài chính và vũ khí. Đây không hề là việc làm dễ dàng. Trung Quốc, từ khi có chuyến thăm của Tống thống Morsi tới Bắc Kinh từ ngày 27 đến 29/8, thường được nêu lên là sự lựa chọn thay thế cường quốc Mỹ của Ai Cập. Người Ai Cập thời hậu Mubarak hiểu rất rõ ràng với vị trí là cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới, Trung Quốc có thể truất ngôi của Mỹ trong vài thập kỷ tới, và vì thế, họ cũng đang tìm mọi cách tranh thủ quốc gia này. Ý muốn của Ai Cập thời hậu cách mạng thực hiện một sự tái cân bằng chính sách đối ngoại của mình đã mang tới cho Trung Quốc nhũng cơ hội lớn bành trướng về kinh tế trong thị trường rộng lớn nhất của thế giới Arập. Để thu hút vốn đầu tư của
Trung Quốc mà Ai Cập có nhu cầu rất lớn, trong chuyến thăm của mình, ông Morsi đã khiến Trung Quốc hoa mắt vì khả năng nước ông trở thành một bàn đạp cho nền công nghiệp Trung Quốc ở châu Phi nhờ nhân công dồi dào và giá rẻ. Trung Quốc, đối tác thương mại hàng đầu của châu lục đen từ năm 2008, có một vùng công nghiệp ở tỉnh Xuyê mà Trung Quốc đang muốn mở rộng. Ngoài ra, cũng phải nhắc đến một lợi thế khác của Trung Quốc, đó là người dân Ai Cập có cảm tình với họ hơn so với Mỹ, băng chứng là một cuộc thăm dò dư luận mới đây do trung tâm thăm dò dư luận Mỹ Pew thực hiện, đã cho thấy rằng 52% người dân Ai Cập thích Trung Quốc so với 17% thích Mỹ.
Bức tranh này, đã biến Ai Cập thời hậu cách mạng thành một địa điểm lý tưởng đối với cường quốc Trung Quốc, nhưng không ai có thể nói rằng vị tổng thống Hồi giáo và Tổ chức Anh em Hồi giáo của ông lại muốn thay thế Mỹ bằng Trung Quốc “cộng sản”. Tất cả những gì mà họ tìm kiếm trong ngắn hạn và trung hạn là tái cân bằng chính sách đối ngoại của Ai Cập và giảm bớt sự phụ thuộc quá nhiều vào Mỹ thông qua việc tăng cường quan hệ với các nền kinh tế mới nổi. Vì vậy, không phải là Ai Cập muốn thay thế cường quốc này bằng một cường quốc khác, mà là Ai Cập sử dụng các con bài để phục vụ những lợi ích kinh tế của mình và mở rộng phạm vi hoạt động ở bên ngoài.
Về phần mình, Trung Quốc, là một người khổng lồ về kinh tế trên thế giới, vẫn chưa thể hiện tham vọng thực hiện vai trò như vậy ở cấp độ chính sách đối ngoại. Chẳng hạn, vị trí hàng đầu của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với châu lục đen đã không thể hiện bằng một chính sách đối ngoại tích cực đối với các cuộc xung đột đang tàn phá châu Phi. Mong muốn lớn nhất của Trung Quốc vẫn là có được nguồn nguyên liệu và năng lượng của châu Phi để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình. Trừ khu vực Đông Á, Trung Quốc có xu hướng thông qua một chính sách không can thiệp vào các cuộc xung đột lớn đang tàn phá các vùng khác nhau trên thế giới, như trường họp cuộc xung đột Ixraen – Palextin, cho dù Bắc Kinh có tỏ ra tích cực hơn về một số vấn đề như chương trình hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, với đất nước Ai Cập mới thời hậu Mubarak, dường như Trung Quốc đang có cách tiếp cận khác hẳn, có vẻ như họ đang công khai thách thức lợi ích và ảnh hưởng của Mỹ tại đây. Và chắc chắn, nếu thành công, sau đó người Trung Quốc sẽ sớm mở rộng những thành quả đã đạt được trong cuộc cạnh tranh ấy ra cả một vùng rộng lớn, giàu tài nguyên ở Trung Đông-Bắc Phi.